Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới. Tư duy kinh tế Việt Nam (1975-1989), năm 2009. Trong số đó, cuốn Tư duy kinh tế VN 1975- 1989 là cuốn gây tiếng vang lớn nhất, cũng là cuốn hút của ông biết bao tinh lực, mà theo ông, đó là cuốn khó viết nhất. Vì 14 năm dằng dặc cũng là giai đoạn cam go của cả dân tộc.
Trước Đổi mới năm 1986, Việt Nam từng bị coi là quốc gia chủ yếu phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, nhưng nhận thức của thế giới về Việt Nam giờ đây đã hoàn toàn thay đổi. Giáo dục nghề nghiệp phát huy vai trò là một trong ba đột phá chiến lược để phát
Bà Nguyễn Thị Ráo, tên thường gọi là Ba Thi nổi tiếng khi là Giám đốc Công ty Kinh doanh lương thực TP Hồ Chí Minh vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Bà được coi là người nổ phát súng đầu tiên vào chế độ bao cấp gạo, thực hiện có kết quả bán gạo một giá trong cả nước. Tình hình lương thực của Thành phố những năm sau giải phóng rất căng thẳng.
(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao và Triển lãm Kinh tế xanh (GEFE) 2022 do Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham Vietnam) và Bộ Công thương đồng tổ chức, sẽ diễn ra từ ngày 28 - 30/11/2022 tại TP. Hồ Chí Minh, nhằm thúc đẩy hợp tác phát triển bền vững Việt Nam - EU, hướng đến tăng trưởng xanh.
Trong thực tế, trước đó nhiều năm đã có hàng loạt mũi đột phá canđảm, gian nan, trầy trật, mưu trí, sáng tạo, mà LỜI TÁC GIẢ Ở Việt Nam và cả nước ngoài, giới nghiên cứuthường coi năm 1986 với Đại hội Đảng lần thứ VI là thời điểm bắt đầu công cuộc Đổi mới.
h7Fe07b. Ở Việt Nam và cả nước ngoài, giới nghiên cứu thường coi năm 1986 với Đại hội Đảng lần thứ VI là thời điểm bắt đầu công cuộc Đổi mới. Trong thực tế, trước đó nhiều năm đã có hàng loạt mũi đột phá can đảm, gian nan, trầy trật, mưu trí, sáng tạo, mà theo cách gọi thời đó là những cuộc “phá rào”. Phá rào tức là vượt qua những hàng rào về quy chế đã lỗi thời để chủ động tháo gỡ nhiều ách tắc trong cuộc sống, đồng thời cũng góp phần từng bước dẹp bỏ hàng loạt rào cản cũ kỹ để mở đường cho công cuộc Đổi mới. Mục tiêu của cuốn sách này là góp phần dựng lại một bức tranh sống động, phong phú về những tìm tòi, tháo gỡ trong thời kỳ “phá rào” đó. Nói đến phá rào, trước hết cần trả lời câu hỏi Hàng rào là những gì? Đó chính là những thể chế, những nguyên tắc của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung được hình thành ở Liên Xô và sau đó được áp dụng tại hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa XHCN. Ở Việt Nam, mô hình này được áp dụng đầu tiên ở miền Bắc khi bước vào thập kỷ 60. Ngay từ thời kỳ đó, nó cũng đã bộc lộ nhiều nhược điểm. Đảng, Nhà nước, nhiều nhà kinh tế và nhiều cán bộ địa phương khi thấy rõ điều đó đã có ý thức tìm tòi giải pháp để khắc phục. Các phong trào “Ba xây, ba chống”, “Cải tiến quản lý hợp tác xã”, “cải tiến quản lý xí nghiệp”…được phát động chính là do người ta đã phát hiện ra những vướng mắc của mô hình này và thử tìm cách khắc phục. Nhiều nhà kinh tế cũng đã đề xuất một số ý kiến có tính chất đột phá như Đa phương hóa xuất nhập khẩu, vận dụng quy luật giá trị trong việc hình thành giá thu mua. Một số địa phương, do sớm nhìn ra những nhược điểm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, đã chủ động áp dụng cơ chế khoán có nơi áp dụng lén lút như ở Kiến An, Hải Phòng năm 1962; có nơi tiến hành công khai và đại trà trên toàn tỉnh như Vĩnh Phúc năm 1966-1968. Tất cả những mũi đột phá đó đều không đi tới đích như dự kiến. Một phần vì quan hệ quốc tế lúc đó, một phần cũng vì trình độ tư duy chung của cả xã hội đương thời chưa chín muồi cho việc đổi mới. Vả lại, trong hoàn cảnh chiến tranh, nhiệm vụ đánh giặc được đưa lên hàng đầu, nên những ý tưởng cải cách vẫn còn phải chờ đợi nhiều thập kỷ nữa. Từ sau giải phóng miền Nam, mô hình kinh tế của miền Bắc được áp dụng cho cả nước. Nhưng hoàn cảnh lúc này đã khác. Nền kinh tế của miền Nam có hàng loạt đặc điểm mà không thể đơn giản áp đặt mô hình kinh tế của miền Bắc vào. Những phản ứng từ cuộc sống không dễ dập tắt chỉ bằng mệnh lệnh, lại càng không thể chỉ bằng một nhát đập bàn của một ai đó. Trước sự sa sút hiển nhiên về kinh tế từ những năm 1978-1979, khó còn có thể tiếp tục giải thích bằng những nguyên nhân nào khác ngoài bản chất cơ chế kinh tế và sự bất lực của những phương sách cứu chữa cũ. Từ đây, bắt đầu thời kỳ rất sống động của việc tìm tòi. Rất nhiều biện pháp phá rào đã diễn ra ở các đơn vị, các địa phương, rất đa dạng và phong phú về phương pháp, về bước đi, về kết quả và nhất là về những phản ứng dây chuyền dẫn tới những sửa đổi cửa chính sách. Dưới đây, xin lựa chọn 20 cuộc phá rào mà tác giả thấy có thể coi là tiêu biểu cho một ngành nghề, một lĩnh vực, một “nghệ thuật”… Tất nhiên, khi đã phải phá rào tức là hàng rào có vấn đề. Nhưng mặt khác, đã phải dùng đến giải pháp phá rào thì ngoài những kết quả tích cực, cũng khó tránh khỏi một hệ quả tiêu cực là làm suy giảm hiệu lực của kỷ cương, làm tăng tính tự phát và tạo ra thói quen tùy tiện. Có những tìm tòi lúc ban đầu là đúng hướng, nhưng sau đó, khi cơ chế chính sách đã được sửa đổi, mà cứ đi tiếp theo hướng tự phát thì rất có thể lại mắc phải những sai lầm, tiêu cực, thậm chí sa vào vòng lao lý. Đó cũng là điều khó tránh trong sự nghiệp chuyển đổi của cả một nền kinh tế từ cơ chế cũ sang cơ chế mới, với biết bao thách thức khó khăn, phức tạp, cạm bẫy. Trong cuốn sách này, mục đích chính của tác giả chỉ là tôn vinh tinh thần tìm tòi, sáng tạo của những cơ sở, của những con người đã tìm được hướng đi đúng, không những cho cơ sở của mình, mà còn tìm ra hướng đi chung cho cả nền kinh tế. Tác giả đã quan tâm đến chủ đề này từ khoảng 15 năm qua. Đó cũng là thời gian của suy nghĩ, tìm kiếm tư liệu và tiến hành khảo sát tại hàng chục tỉnh và thành phố, sục sạo rất nhiều cơ sở, phỏng vấn hàng trăm người khắp từ Bắc chí Nam, và cả người Việt ở nước ngoài trong các chuyến đi khảo sát ở Nga và Đông Âu để hiểu tường tận hơn những luồng hàng đánh đi và đánh về; lại tận dụng những chuyến đi họp và giảng dạy ở Mỹ, Pháp, Úc, Anh để khám phá những cách thức gửi tiền và hàng về nước, đặc biệt là hệ thống ngân hàng ngầm. Sau đó, đầu năm 2004, công trình này đã được chấp nhận là Đề tài cấp Bộ của Viện Kinh tế Việt Nam mà tác giả là chủ nhiệm. Công trình được biên soạn xong vào năm 2005 trong sự cộng tác với một số bạn đồng nghiệp trẻ mà tác giả có trách nhiệm hướng dẫn nghiên cứu. Đề tài đã được nghiệm thu chính thức tại Tp. Hồ Chí Minh ngày với một Hội đồng thật đích đáng Chủ tịch Hội đồng là Đỗ Hoài Nam mà sau đó là đồng chủ biên cuốn sách, thành viên Hội đồng kỳ này có nét rất đặc trưng là bao gồm hầu hết chính những vị “anh hùng” của thời “Phá rào” và được nhắc tới rất nhiều lần trong sách như Tư Giao ở Long An, Sáu Hơn ở An Giang, Nhật Hồng ở Vietcombank, Phan Chánh Dưỡng ở “Nhóm thứ 6”, Trần Đình Bút ở Trường Hành chính… Nhưng suốt bốn năm sau đó, bản thảo vẫn nằm trong máy tính, không phải do bị ai bắt “ngâm” lại, mà chỉ do bản thân tác giả muốn “ngẫm” thêm cho chín hơn, tham khảo lại nhiều người trong và ngoài cuộc cho chắc hơn, nhất là đối với một số trường hợp có những khía cạnh còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Đặc biệt, tác giả lại vinh dự được Đỗ Hoài Nam, Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, vui lòng nhận lời mời làm đồng chủ biên để chỉ bảo thêm về cách xử lý trên những khía cạnh mà cho đến lúc đó, còn ít nhiều nhạy cảm. Được như thế thì lại càng phải thận trọng hơn, vì tác giả tự thấy mình không được phép để người đồng nghiệp và cũng là cấp trên khả kính của mình phải chịu bất kỳ một ảnh hưởng nào do những sơ suất dù nhỏ nhất của người viết. Để thử phản ứng của dư luận, chúng tôi đã chọn hai trường hợp phá rào đã được chính thức ghi nhận mặt tích cực để xuất bản dưới hình thức những tập sách tham khảo mỏng[1]. Sau đó, tác giả đã tự lược đi tất cả những biếm họa, hò vè hài hước của dân gian và một loạt chương mục như Khoán Vĩnh Phúc vì nó liên quan đến uy tín của một nhà lãnh đạo lớn mà bản thân tác giả rất kính trọng, nông trường Sông Hậu tuy là một trường hợp độc nhất trong ngành này đã phá rào thành công nhưng sau đó lại lâm vào vòng lao lý, thuốc lá Vĩnh Hội tăng sản lượng vùn vụt thì có thể lại đi ngược với xu thế của thế giới…Đến đầu năm 2009, bản thảo mới được gửi tới Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Sách đã in xong đầu tháng 7 gồm 276 trang khổ nhỏ, với tên Những mũi đột phá trong kinh tế thời trước Đổi mới. Cứ tưởng là chuyện đã cũ rồi, và cũng không phải là chủ đề đại sự, thì chẳng mấy ai còn quan tâm. Nhưng chỉ trong vòng một tháng sau, sách đã tiêu thụ hết. Nhiều bạn đọc thấy có tên sách trên mạng, nhưng tìm mua không được. Khó xử nhất là đối với nhưng vị mà tác giả tri ân, từng tận tình giúp tác giả trong những đợt đi thực tế ở Cần Thơ, Vĩnh Hội, Nhà máy Dệt Nam Định, Công ty Xe khách Miền Đông… đã gọi điện tới tỏ nỗi thất vọng vì không thấy chuyện của họ được đưa vào trong sách? Đòi hỏi rộng rãi đó đã sớm đến tai TS. Chu Hảo, Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, ông tìm gặp tác giả và ngỏ ý muốn xem bản thảo đầy đủ. Vài hôm sau, ông ngỏ ý sẵn sàng chịu trách nhiệm trước các cơ quan hữu quan về việc xuất bản, với điều kiện tác giả phải trực tiếp đứng tên và chịu trách nhiệm trước Nhà xuất bản Tri thức về độ chính xác của các tư liệu. Điều đó thì đương nhiên tác giả sẵn sàng cam kết, vì một lẽ đơn giản Đó đều là sự thật, mà tác giả đã gặp, đã nghe, đã đọc. Thế là bản thảo đầy đủ đã được trao cho Nhà xuất bản Tri thức và được tái bản trong khuôn khổ chương trình sách “Việt Nam đương đại” với cái tên nguyên thủy của nó “Phá rào” trong kinh tế Việt Nam vào đêm trước Đổi mới. Trong lần tái bản này, tác giả lấy lại để đưa vào khá nhiều cuộc phá rào ngoạn mục và tiêu biểu như – Khoán ở Vĩnh Phúc. – Khoán ở Nông trường Sông Hậu – Đột phá ở Nhà máy Dệt Nam Định. – Đột phá ở Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội. – Khoán ở Công ty Xe khách Thành phố Hồ Chí Minh. – Cuộc đấu tranh kiên trì gian khổ 20 năm để sửa đổi hệ thống giá. – Những đường dây buôn bán và thanh toán với nước ngoài… Ngoài phần lớn những chương mục do tác giả trực tiếp khảo sát và biên soạn, tác giả cũng lựa chọn để đưa lại vào đây 3 chương mà tác giả đã tiến hành cùng các đồng nghiệp trẻ, như chương Xí nghiệp Dệt Thành Công viết cùng bạn Cao Tuấn Phong, Cơ chế một giá của Long An viết cùng bạn Ngọc Thanh, Kho bạc viết cùng bạn Lê Mai. Trong việc tìm hiểu những cuộc phá rào dưới đây, tác giả đã cố gắng tìm cách tiếp cận tận nơi, tận chốn, gặp những người thật, nắm bắt những việc thật. Rất may là phần rất lớn những người chủ trương và những người tham gia các cuộc phá rào vẫn còn sống, còn khỏe mạnh, còn tỉnh táo để nhìn lại cả một chặng đường gian nan nhưng ngoạn mục mà họ đã đi qua. Dĩ nhiên, có những “chiến sĩ đột phá” không còn nữa, như ông Kim Ngọc ở Vĩnh Phúc, ông Năm Hoằng ở Hậu Giang. Ở trường hợp này, tác giả phải tìm lại những tài liệu, những người đương thời và gia đình để hiểu rõ sự việc. Tác giả xin chân thành cảm ơn các vị đã từng đứng mũi chịu sào trong những cuộc phá rào đó, nay lại sẵn sàng kể lại cho nghe, cung cấp thêm nhưng tư liệu, giúp đỡ về nhiều mặt để tác giả có thể khắc họa lại bức tranh sinh động của một thời tuy chưa phải xa lắm, nhưng có thể là khó hiểu đối với thế hệ trẻ hiện nay và mai sau. Các vị đó là Võ Văn Kiệt nguyên Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Thủ tướng Chính phủ, Giáo sư Trần Phương nguyên Trợ lý của Tổng Bí thư Lê Duẩn, nguyên Phó Thủ tướng, Đoàn Duy Thành nguyên Bí thư Thành ủy Hải Phòng, nguyên Phó Thủ tướng, Nguyễn Văn Chính nguyên Bí thư Tỉnh ủy Long An, nguyên Phó Thủ tướng, Nguyễn Văn Hơn nguyên Bí thư Tỉnh ủy An Giang, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp, Bùi Văn Giao nguyên Phó Chủ tịch tỉnh Long An, nguyên Trợ lý của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Lữ Minh Châu nguyên Giám đốc Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Nguyễn Văn Phi nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại thương, nguyên Giám đốc Sở Ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Hồng Cẩn nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản, Nguyễn Nhật Hồng nguyên Giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh và rất nhiều vị lãnh đạo các ngành, các cơ sở kinh tế mà không thể kể hết ra đây. Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn những đồng nghiệp là những nhà nghiên cứu kinh tê và nghiên cứu lịch sử không những đã bày tỏ sự đồng tình và khích lệ, mà còn có nhiều đóng góp trực tiếp về nội dung và phương pháp tiếp cận chủ đề này. Đó là Đỗ Hoài Nam, Giáo sư Trần Đình Bút, Giáo sư Đào Xuân Sâm, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nhà xã hội trong và ngoài nước. Tham khảo thêm Nhìn Về Toàn Cầu Hóa Nghệ Thuật Xoay Chuyển Tình Thế Doanh Nhân Tự Học – Phân Tích Công Việc Nguồn
"Phá Rào" Trong Kinh Tế Vào Đêm Trước Đổi Mới Ở Việt Nam và cả nước ngoài, giới nghiên cứu thường coi năm 1986 với Đại hội Đảng lần thứ VI là thời điểm bắt đầu công cuộc Đổi mới. Trong thực tế, trước đó nhiều năm đã có hàng loạt mũi đột phá can đảm, gian nan, trầy trật, mưu trí, sáng tạo, mà theo cách gọi thời đó là những cuộc "phá rào". Phá rào tức là vượt qua những hàng rào về quy chế đã lỗi thời để chủ động tháo gỡ nhiều ách tắc trong cuộc sống, đồng thời cũng góp phần từng bước dẹp bỏ hàng loạt rào cản cũ kỹ để mở đường cho công cuộc Đổi mới. Mục tiêu của cuốn sách này là góp phần dựng lại một bức tranh sống động, phong phú về những tìm tòi, tháo gỡ trong thời kỳ "phá rào" đó. Nói đến phá rào, trước hết cần trả lời câu hỏi Hàng rào là những gì? Đó chính là những thể chế, những nguyên tắc của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung được hình thành ở Liên Xô và sau đó được áp dụng tại hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa XHCN. Ở Việt Nam, mô hình này được áp dụng đầu tiên ở miền Bắc khi bước vào thập kỷ 60. Ngay từ thời kỳ đó, nó cũng đã bộc lộ nhiều nhược điểm. Đảng, Nhà nước, nhiều nhà kinh tế và nhiều cán bộ địa phương khi thấy rõ điều đó đã có ý thức tìm tòi giải pháp để khắc phục. Các phong trào "Ba xây, ba chống", "Cải tiến quản lý hợp tác xã", “Cải tiến quản lý xí nghiệp”… được phát động chính là do người ta đã phát hiện ra những vướng mắc của mô hình này và thử tìm cách khắc phục. Nhiều nhà kinh tế cũng đã đề xuất một số ý kiến có tính chất đột phá như Đa phương hóa xuất nhập khẩu, vận dụng quy luật giá trị trong việc hình thành giá thu mua. Một số địa phương, do sớm nhìn ra những nhược điểm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, đã chủ động áp dụng cơ chế khoán có nơi áp dụng lén lút như ở Kiến An, Hải Phòng năm 1962; có nơi tiến hành công khai và đại trà trên toàn tỉnh như Vĩnh Phúc năm 1966-1968. Tất cả những mũi đột phá đó đều không đi tới đích như dự kiến. Một phần vì quan hệ quốc tế lúc đó, một phần cũng vì trình độ tư duy chung của cả xã hội đương thời chưa chín muồi cho việc đổi mới. Vả lại, trong hoàn cảnh chiến tranh, nhiệm vụ đánh giặc được đưa lên hàng đầu, nên những ý tưởng cải cách vẫn còn phải chờ đợi nhiều thập kỷ nữa. Từ sau giải phóng miền Nam, mô hình kinh tế của miền Bắc được áp dụng cho cả nước. Nhưng hoàn cảnh lúc này đã khác. Nền kinh tế của miền Nam có hàng loạt đặc điểm mà không thể đơn giản áp đặt mô hình kinh tế của miền Bắc vào. Những phản ứng từ cuộc sống không dễ dập tắt chỉ bằng mệnh lệnh, lại càng không thể chỉ bằng một nhát đập bàn của một ai đó. Trước sự sa sút hiển nhiên về kinh tế từ những năm 1978-1979, khó còn có thể tiếp tục giải thích bằng những nguyên nhân nào khác ngoài bản chất cơ chế kinh tế và sự bất lực của những phương sách cứu chữa cũ. Từ đây, bắt đầu thời kỳ rất sống động của việc tìm tòi. Rất nhiều biện pháp phá rào đã diễn ra ở các đơn vị, các địa phương, rất đa dạng và phong phú về phương pháp, về bước đi, về kết quả và nhất là về những phản ứng dây chuyền dẫn tới những sửa đổi của chính sách....Giá sản phẩm trên Tiki đã bao gồm thuế theo luật hiện hành. Bên cạnh đó, tuỳ vào loại sản phẩm, hình thức và địa chỉ giao hàng mà có thể phát sinh thêm chi phí khác như phí vận chuyển, phụ phí hàng cồng kềnh, thuế nhập khẩu đối với đơn hàng giao từ nước ngoài có giá trị trên 1 triệu đồng.....
PHÁ RÀO TRONG KINH TẾ VÀO ĐÊM TRƯỚC ĐỔI MỚI NĂM 1986 SG Trading xin giới thiệu quyển sách Phá Rào Trong Kinh Tế Vào Đêm Trước Đổi Mới. Quyển sách này là một chút hoài niệm về kinh tế Việt Nam sau những năm giải phóng, bối cảnh phản ánh rõ đời sống khó khăn của nhân dân ta. Nhưng trên hết, học từ những sai lầm trong quá khứ, luôn là bài học quý giá nhất. Hãy tận hưởng những thành công ở hiện tại, cũng như hãy trân trọng những gì đã trải qua. "Đời thay đổi khi ta thay đổi" Mọi đổi mới đều bắt đầu từ đổi mới tư duy. Cách nghĩ cũ tạo ra mô hình cũ. Cách nghĩ mới tạo ra mô hình mới. Vậy thì trong những bộ óc chủ chốt thời đó, cách nghĩ cũ chuyển sang cách nghĩ mới như thế nào? Mục tiêu của cuốn sách này là góp phần dựng lại một bức tranh sống động, phong phú về những tìm tòi, tháo gỡ trong thời kỳ “phá rào” đó. Nói đến phá rào, trước hết cần trả lời câu hỏi Hàng rào là những gì? Đó chính là những thể chế, những nguyên tắc của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung được hình thành ở Liên Xô và sau đó được áp dụng tại hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa XHCN. Ở Việt Nam, mô hình này được áp dụng đầu tiên ở miền Bắc khi bước vào thập kỷ 60. Ngay từ thời kỳ đó, nó cũng đã bộc lộ nhiều nhược điểm. Đảng, Nhà nước, nhiều nhà kinh tế và nhiều cán bộ địa phương khi thấy rõ điều đó đã có ý thức tìm tòi giải pháp để khắc phục. Các phong trào “Ba xây, ba chống”, “Cải tiến quản lý hợp tác xã”, “Cải tiến quản lý xí nghiệp”… được phát động chính là do người ta đã phát hiện ra những vướng mắc của mô hình này và thử tìm cách khắc phục. Nhiều nhà kinh tế cũng đã đề xuất một số ý kiến có tính chất đột phá như Đa phương hóa xuất nhập khẩu, vận dụng quy luật giá trị trong việc hình thành giá thu mua. Một số địa phương, do sớm nhìn ra những nhược điểm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, đã chủ động áp dụng cơ chế khoán có nơi áp dụng lén lút như ở Kiến An, Hải Phòng năm 1962; có nơi tiến hành công khai và đại trà trên toàn tỉnh như Vĩnh Phúc năm 1966-1968. Tất cả những mũi đột phá đó đều không đi tới đích như dự kiến. Một phần vì quan hệ quốc tế lúc đó, một phần cũng vì trình độ tư duy chung của cả xã hội đương thời chưa chín muồi cho việc đổi mới. Vả lại, trong hoàn cảnh chiến tranh, nhiệm vụ đánh giặc được đưa lên hàng đầu, nên những ý tưởng cải cách vẫn còn phải chờ đợi nhiều thập kỷ nữa. Từ sau giải phóng miền Nam, mô hình kinh tế của miền Bắc được áp dụng cho cả nước. Nhưng hoàn cảnh lúc này đã khác. Nền kinh tế của miền Nam có hàng loạt đặc điểm mà không thể đơn giản áp đặt mô hình kinh tế của miền Bắc vào. Những phản ứng từ cuộc sống không dễ dập tắt chỉ bằng mệnh lệnh, lại càng không thể chỉ bằng một nhát đập bàn của một ai đó. Trước sự sa sút hiển nhiên về kinh tế từ những năm 1978-1979, khó còn có thể tiếp tục giải thích bằng những nguyên nhân nào khác ngoài bản chất cơ chế kinh tế và sự bất lực của những phương sách cứu chữa cũ. Từ đây, bắt đầu thời kỳ rất sống động của việc tìm tòi. Rất nhiều biện pháp phá rào đã diễn ra ở các đơn vị, các địa phương, rất đa dạng và phong phú về phương pháp, về bước đi, về kết quả và nhất là về những phản ứng dây chuyền dẫn tới những sửa đổi của chính sách. Dưới đây, xin lựa chọn 20 cuộc phá rào mà tác giả thấy có thể coi là tiêu biểu cho một ngành nghề, một lĩnh vực, một “nghệ thuật”... Tất nhiên, khi đã phải phá rào tức là hàng rào có vấn đề. Nhưng mặt khác, đã phải dùng đến giải pháp phá rào thì ngoài những kết quả tích cực, cũng khó tránh khỏi một hệ quả tiêu cực là làm suy giảm hiệu lực của kỷ cương, làm tăng tính tự phát và tạo ra thói quen tùy tiện. Có những tìm tòi lúc ban đầu là đúng hướng, nhưng sau đó, khi cơ chế chính sách đã được sửa đổi, mà cứ đi tiếp theo hướng tự phát thì rất có thể lại mắc phải những sai lầm, tiêu cực, thậm chí sa vào vòng lao lý. Đó cũng là điều khó tránh trong sự nghiệp chuyển đổi của cả một nền kinh tế từ cơ chế cũ sang cơ chế mới, với biết bao thách thức khó khăn, phức tạp, cạm bẫy. Trong cuốn sách này, mục đích chính của tác giả chỉ là tôn vinh tinh thần tìm tòi, sáng tạo của những cơ sở, của những con người đã tìm được hướng đi đúng, không những cho cơ sở của mình, mà còn tìm ra hướng đi chung cho cả nền kinh tế. Tác giả đã quan tâm đến chủ đề này từ khoảng 15 năm qua. Đó cũng là thời gian của suy nghĩ, tìm kiếm tư liệu và tiến hành khảo sát tại hàng chục tỉnh và thành phố, sục sạo rất nhiều cơ sở, phỏng vấn hàng trăm người khắp từ Bắc chí Nam, và cả người Việt ở nước ngoài trong các chuyến đi khảo sát ở Nga và Đông Âu để hiểu tường tận hơn những luồng hàng đánh đi và đánh về; lại tận dụng những chuyến đi họp và giảng dạy ở Mỹ, Pháp, Úc, Anh để khám phá những cách thức gửi tiền và hàng về nước, đặc biệt là hệ thống ngân hàng ngầm. Đặt sách để cùng nhìn lại kinh tế Việt Nam những năm sau giải phóng! SG Trading - MỤC LỤC Phần mở đầu TỪ GIẢI PHÓNG ĐẤT NƯỚC ĐẾN “CỞI TRÓI” CHO SẢN XUẤT I. Từ đại thắng đến đại hội 1. Mô hình kinh tế từ miền Bắc 2. Những vận hội sau ngày giải phóng 3. Hội nghị Trung ương lần thứ 24 4. Đại hội Đảng lần thứ IV II. Thiếu hụt, khủng hoảng và ách tắc 1. Viện trợ Mỹ được thay bằng cấm vận của Mỹ 2. Thiên tai - địch họa 3. Viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cũng giảm sút 4. Liệu pháp cải tạo 5. Kế hoạch 5 năm 1976-1980 Phần I TỪ XÍ NGHIỆP "XÉ RÀO" ĐẾN NHÀ NƯỚC SỬA ĐỔI “HÀNG RÀO” Chương 1. “Bung ra” và “cởi trói” tại hội nghị trung ương 6 1979 1. Thông báo số 10-TB/TƯ của Bộ Chính trị và những bừng tỉnh đầu tiên về quan điểm kinh tế 2. Đột phá tại Hội nghị Trung ương 6 Chương 2. Xí nghiệp Dệt Thành Công – từ “hấp hối” đến lá cờ đầu Chương 3. Nhà máy Dệt lụa Nam Định – “lệ làng” thành “phép vua” Chương 4. Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội – một tháng bằng nửa năm 1. Từ buông ra… 2. Đến bung ra Chương 5. Cơ chế ăn chia ở Xí nghiệp Đánh cá Côn Đảo – Vũng Tàu Chương 6. Seaprodex – Mô hình tự cứu Tự cân đối, tự trang trải, mở và hội tụ 1. “Từ đầu voi” đến “đuôi chuột” trong kế hoạch 5 năm lần thứ II 2. Từ “buông ra” đến “bung ra” 3. Mô hình tự cân đối 4. Liên doanh liên kết theo phương châm lấy mở để hội tụ 5. Tính thuyết phục của những kết quả Chương 7. Khoán ở Công ty Xe khách Miền Đông Thành phố Hồ Chí Minh 1. Tình hình trước khi thành lập công ty 2. Sự ra đời mô hình công ty quốc doanh vận tải hành khách 3. Phương pháp xây dựng kế hoạch 4. Thực tế của Input 5. Thực tế ở Output 6. Quá trình chuyển đổi cơ chế từ “bung ra”, “phá rào” tới cải cách Tiểu kết phần I. “SỬA RÀO” Phần II TỪ TIỂU NÔNG CÁ THỂ LÊN SẢN XUẤT LỚN RỒI VỀ VỚI KINH TẾ HỘ Chương 8. “Khoán Kim Ngọc” ở Vĩnh Phúc 1. Mô hình hợp tác xã và những vấn đề 2. Con đường đi tới quyết định “đột phá” 3. Phương thức khoán 4. Phản ứng từ thực tiễn 5. Những phản ứng khác nhau từ Trung ương 6. Tự phê bình và “sửa sai” cái đúng Chương 9. Khoán ở Hải Phòng 1. Thách đố mới Sau giải phóng… vẫn chưa được giải phóng 2. Đoàn Xá - đốm lửa từ một xã đi ăn mày 3. Sự “sáp nhập” về tư duy 4. Từ xã Đoàn Xá đến huyện Đồ Sơn 5. Từ Đồ Sơn lên thành phố 6. Sang huyện Kiến An 7. Lên đến Trung ương 8. Từ Trung ương đến cả nước Chương 10. Chuyện “tày đình”, nhưng trót lọt – Giải thể các tập đoàn máy kéo ở An Giang 1. Sự hình thành các trạm máy kéo 2. Chế độ thanh toán 3. Thức tỉnh và đột phá Chương 11. Từ chính sách Tam nông ở An Giang đến Nghị quyết 10 ở Bộ Chính trị 1. Tập thể hóa nông nghiệp ở miền Nam - chủ trương, bước đi, ách tắc 2. Từ chính sách Tam nông đến Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị Chương 12. Khoán ở Nông trường Sông Hậu 1. Giao đất cho nông dân 2. Tạo vốn ban đầu Tiểu kết phần II Phần III TỪ ”MUA NHƯ CƯỚP, BÁN NHƯ CHO” ĐẾN THUẬN MUA VỪA BÁN Chương 13. Giá – Hơn 20 năm đấu tranh 1. Bắt đầu ở miền Bắc, với vấn đề giá nông sản 2. Tiếp diễn ở miền Nam 3. Thay đổi nhân sự và tổng điều chỉnh giá - thắng lợi bước đầu Chương 14. Công ty Lương thực Thành phố Hồ Chí Minh dùng “xe cứu đói” vượt “đèn đỏ” 1. Từ tính cách một con người đến tính cách một tập thể 2. Tình hình lương thực thành phố những năm sau giải phóng 3. “Tổ buôn lậu gạo” 4. Từ lề đường vào chính lộ Chương 15. An Giang phá giá mua lúa, làm rung chuyển hệ thống “giá chỉ đạo” 1. Tình hình thu mua theo cơ chế cũ 2. Đột phá về mua lúa 3. Kết quả trực tiếp Mua lúa vượt mức kế hoạch 4. Những phản ứng dây chuyền của việc đột phá giá mua lúa Chương 16. Long An bỏ tem phiếu, chuyển sang cơ chế một giá 1. Bối cảnh 2. Ý tưởng 3. Cuộc thử thách thứ nhất 1977-1978 4. Tìm kiếm sự đồng thuận 5. Những bước tiến tới cải tiến mua và bán 6. Những kết quả hiển nhiên 7. Sự lan tỏa của mô hình Long An Chương 17. Từ Kho bạc An Giang đến hệ thống Kho bạc cả nước 1. Hoạt động ngân sách quốc gia 2. Thành lập Kho bạc Nhà nước tỉnh An Giang 3. Kho bạc Nhà nước An Giang thực hiện những ý tưởng sáng tạo. Tự ngân khố lo được tiền mặt Tiểu kết phần III Phần IV TỪ ĐỘC QUYỀN NGOẠI THƯƠNG CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẾN NHỮNG “RỪNG” IMEX Chương 18. Những đường dây buôn bán tư nhân với nước ngoài 1. Với Liên Xô và Đông Âu 2. Với Lào 3. Với Campuchia 4. Hàng Vosco 5. Thị trường ngầm trong nước đối với khách quốc tế 6. Thanh toán ngầm và ngân hàng ngầm Chương 19. Các “IMEX” 1. “Trói” 2. Hai hình thức cởi trói “lén” đầu tiên sau giải phóng “Cấp cứu” và trao đổi trực tiếp 3. Sự ra đời của các “IMEX” 4. Lách cơ chế bằng phương thức “kiều hối nguyên liệu” Chương 20. Vietcombank – Người “tiếp tay” 1. Vietcombank và ý tưởng đột phá đầu tiên ra thị trường tài chính thế giới 2. Hai mươi năm sau 3. Vai trò đầu tàu của Vietcombank Thành phố Hồ Chí Minh Tiểu kết phần IV Thay kết luận NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ NHỮNG MŨI ĐỘT PHÁ 1. “Xả lũ” chứ không “vỡ bờ” 2. Sức sống của kinh tế thị trường 3. Bắt đầu từ cuộc sống, từ dân, từ dưới lên 4. Những điểm tựa lịch sử 5. Từ mâu thuẫn đến đồng thuận 6. Vừa đi vừa mở đường 7. Hệ quả hai mặt 8. Tổng quan về lộ trình 9. So sánh quốc tếGiá sản phẩm trên Tiki đã bao gồm thuế theo luật hiện hành. Bên cạnh đó, tuỳ vào loại sản phẩm, hình thức và địa chỉ giao hàng mà có thể phát sinh thêm chi phí khác như phí vận chuyển, phụ phí hàng cồng kềnh, thuế nhập khẩu đối với đơn hàng giao từ nước ngoài có giá trị trên 1 triệu đồng.....
Trang chủ > Sư phạm > Sư phạm sử > Phân biệt kinh tế Việt Nam, trước đổi mới ,và trong thời kỳ đổi mới ... Đảng kinh tế thị trường nước ta hoàn thành nghiên cứu với đề tài Phân biệt kinh tế Việt Nam trước đổi thời kỳ đổi mới Trong đó, tập trung phân tích làm rõ khác biệt kinh tế Việt Nam trước thời ... kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa hội nhập kinh tế quốc tế hiệu Phân biệt kinh tế Việt Nam trước đổi thời kì đổi Tiêu thức Kinh tế Việt Nam trước đổi Kinh tế ... Làm rõ phân biệt kinh tế trước thời kỳ đổi thời kỳ đổi Từ đưa tác động kết quả, ý nghĩa hạn chế mà kinh tế thị trường đưa lại Đối tượng phạm vi nghiên cứu Nền kinh tế Việt Nam trước thời kỳ đổi... 17 12,096 88 Cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ trước đổi mới ... Đảng cộng sản Việt Nam Cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ trước đổi Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp Cơ chế kế hoạch hóa tập trung kinh tế mệnh lệnh chế mà theo quyền trung ... Đảng cộng sản Việt Nam Nhu cầu đổi chế quản lý kinh tế Nguyên nhân thúc đẩy tiến trình đổi Nhu cầu đổi chế quản lý kinh tế nước ta xuất phát từ nhiều lý đáng ý ba sở sau đây Một là, ... hợp với kinh tế thị trường; tổ chức lại hệ thống quản lý, xếp lại quan quản lý nhà nước kinh tế Đổi thể chế thủ tục hành Đào tạo đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước quản lý doanh... 17 26,946 40 SƠ LƯỢC NHẬN THỨC VỀ THÀNH PHẦN KINH TẾ THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI VÀ SAU ĐỔI MỚI 1986 QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI VI, VII, VIII ... phần kinh tế thành hai loại kinh tế xã hội chủ nghĩa phi xã hội chủ nghĩa trước đổi mới , đến thừa nhận kinh tế nhiều thành phần trong đổi mới , thừa nhận tất thành phần kinh tế phận cấu thành ... xã hội Về thành phần kinh tế Xuất phát từ thực tiễn năm trước, Đại hội IX tái khẳng định quan điểm đổi Đại hội VI, VII, VIII, đồng thời bổ sung số điểm sau - Một là, thay thành phần kinh tế ... sáu thành phần kinh tế kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể nòng cốt hợp tác xã; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư tư nhân; kinh tế tư nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước Các thành phần kinh tế... 24 2,044 6 Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội Những đổi mới về mặt nội dung và phương pháp ... quy hoạch phát triển .Kế hoạch phát triển cụ thể hóa mục tiêu, biện pháp, giả pháp sách nhằm thực mục tiêu đặt khoảng thời gian định năm Các nội dung phận kế hoạch năm phát triển kinh tế xã hội Kế ... phận kế hoạch - Kế hoạch tăng trưởng kinh tế - Kế hoạch chuyển dịch cấu kinh tế - Kế hoạch vốn đầu tư - Kế hoạch lao động việc làm Author GROUP KẾ HOẠCH HÓA - Kế hoạch tài ngân sách - KẾ HOẠCH NĂM ... KẾ HOẠCH HÓA KẾ HOẠCH NĂM 2006-2010 II CÁC ĐỔI MỚI TRONG NỘI DUNG VÀ PHƯƠN PHÁP XÂY DỰNG KẾ HOẠCH NĂM 2006-2010 1 .Đổi nội dung kế hoạch Phương hướng mục tiêu nhiệm vụ ngành lĩnh vực năm tới phải... 37 671 1 KẾ HOẠCH 5 năm PHÁT TRIỂN KINH tế xã hội NHỮNG đổi mới về nội DUNG và PHƯƠNG PHÁP ... nhà kinh tế tương lai Phạm vi nghiên cứu - Kế hoạch năm phát triển kinh tế xã hội 2001-20 05 - Kế hoạch năm phát triển kinh tế xã hội 2006-2010 - Tiến hành nghiên cứu phạm vi nước Phương pháp ... hướng phát triển kinh tế - xã hội đất nước - Là công cụ quản lý kinh tế - xã hội nhà nước Phương pháp xây dựng kế hoạch năm Phương pháp xây dựng kế hoạch năm áp dụng Việt nam nước phát triển ... hoá kế hoạch năm, phân đoạn kế hoạch năm để bước thực kế hoạch năm 17 Hệ thống kế hoạch hàng năm bao gồm - Kế hoạch định hướng phát triển kinh tế- xã hội hang năm. Nó vừa công cụ để ổn định - Kinh... 23 550 0 Kế hoach 5 năm phát triển kinh tế xã hội những đổi mới về mặt nội dung và phương pháp ... nm t 2 .53 nghỡn t ng, bng khong 38 ,5- 49% GDP T l tớch ly trờn GDP cú xu hng tng lờn, t 35, 4% nm 20 05 lờn 40 ,5- 41% nm 2010 T l tit kim ni ớa trờn GDP tng t 30,2% nm 20 05 lờn 32,3-33 ,5% nm ... ràng buộc tác động đến khả đạt đợc mục tiêu kinh tế xã hội đặt Cân đối yếu tố nguồn lực chủ yếu thời kỳ kế hoạch, thực chất việc xây dựng kế hoạch biện pháp cần có phản ánh thực trạng cân đối mục ... ngch xut khu nm 20 05 l 51 ,5% nm 2010 gim xung cũn 35, 9% 13 Author GROUP K HOCH HểA K HOCH NM 2006-2010 II CC I MI TRONG NI DUNG V PHNG PHP XY DNG K HOCH NM 2006-2010 mi v ni dung k hoch Phng... 31 510 0 Tài liệu Kinh Tế Việt Nam Từ Đổi Mới Đến Hội Nhập pot ... Kinh Tế Việt Nam Từ Đổi Mới Đến Hội Nhập Phạm Đỗ Chí & Phạm Quang Diệu I Kinh Tế Việt Nam Đang Đâu ? Trong vòng 20 năm qua, kinh tế Việt Nam VN bước đường mở cửa hội nhập vào kinh tế giới ... Quang Việt, Lạm phát Việt Nam, Thời báo Kinh tế Sài gòn, 12/08/2004, trang 42-43, trích liệu thống kê từ Niên giám Thống kê Việt Nam 2003 IMF Xem Vũ Quang Việt, Lạm phát Việt Nam, tài liệu dẫn ... 1930 Việt Nam nói chuyện buôn bán với Mỹ Ngay thế, yếu tố 2-5 chưa hẳn đứng vững xem đây Bài thử xem lại cải cách kinh tế Việt Nam1 1 từ xét lý luận bênh vực kinh tế Việt Nam KTTT hay kinh tế... 25 451 1 Kinh tế VN thời kỳ đổi mới pdf ... Việc thực kinh tế thị trường làm tăng khoảng cách giàu nghèo, tăng ô nhiễm môi trường tệ nạn xã hội Nền kinh tế tăng trưởng cao số lực cạnh tranh mức thấp, gây lãng phí tài nguyên Nền kinh tế nằm ... mức thấp, gây lãng phí tài nguyên Nền kinh tế nằm nhóm nước kinh tế phát triển Trong cấu kinh tế, nông nghiệp chiếm 76,2% 2002, kinh tế chủ yếu bao gồm doanh nghiệp nhỏ doanh nghiệp Nhà ... hành cần thiết cho kinh tế thị trường chưa quy định hay quy định không thực hiện, gây tình trạng tham nhũng, cửa quyền , làm số minh bạch môi trường kinh doanh thấp Sau 20 năm Đổi Mới, thế, đồng... 3 543 2 Thành tưự và hạn chế kinh tế viêth nam sau đổi mới đến nay theo Macxit -2 ppsx ... sang đa thành phần chuyển theo hướng hình thành vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc- Trung- Nam - Đẩy lùi lạm phát 1986 774,7%; 1990 67,4%; 1995 12,7%; 1997 3,7%; 1999 0,1% - Kinh tế đối ngoại ... buôn lậu tệ quan liệu coi quốc nạn, đưa vào chương trình nghị quan trọng hàng đầu Việt Nam Song chưa chống được, chí có phần nghiêm trọng Hạn chế kinh tế xa hội nước ta nhiều Nguyên nhân yếu ... tế có phù hợp tuyệt đối quan hệ sản xuất lực lượng sản xuất song phải tuỳ theo tình hình thực tế mà chọn giải pháp phù hợp Sự vận dụng đắn Đảng Nhà nước đem lại thành tựu vô to lớn cho kinh tế... 6 432 1 Thành tưự và hạn chế kinh tế viêth nam sau đổi mới đến nay theo Macxit - 1 pot ... triển kinh tế - xa hội nước ta từ đổi đến Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Sự hình thành phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Sau độc lập, kinh tế ... CNH-HĐH đất nước nỗ lực thực đa đạt nhiều thành tựu đáng kể Cùng với khó khăn, hạn chế song tương lai phát triển đất nước mang nhiều yếu tố khả quan III Thành tựu hạn chế phát triển kinh tế - ... Việt Nam quan hệ với CNTB sở có lợi cho đôi bên cho phép phát triển thành phần kinh tế tư sáng suốt" Hay quan điểm từ Đại hội Đảng VI khẳng định khôi phục thành phần kinh tế tư tư nhân kinh tế... 6 500 4 Tổng quan kinh tế việt nam sau đổi mới ... tích cực hội nhập kinh tế khu vực giới Vượt khỏi sách bao vây cấm vận Mỹ lực lượng thù địch nước ngoài, Việt Nam tham gia hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế cấp độ lĩnh vực kinh tế then chốt như ... doanh doanh nghiệp chuyển từ quản lý cụ thể hoạt động kinh tế sang quản lý tổng thể kinh tế quốc dân; chuyển từ can thiệp trực tiếp vào kinh tế sang can thiệp gián tiếp thông qua hệ thống pháp ... 2005, kinh tế tập thể đóng góp 8% GDP Kinh tế tư nhân phát huy ngày tốt nguồn lực tiềm nhân dân, từ sau có Luật Doanh nghiệp năm 2000 Sau gần năm, nước có gần doanh nghiệp đăng ký, đưa tổng... 4 347 3 Tư liệu về đêm trước Đổi mới ... vợ biết đêm đêm "đồng khởi" thu sản, tổng vét xã Họ đổi chéo, công an dân quân đội đội kia, vét hết Vì đội 12 nặng gánh nhất, nên họ điều tay cứng cựa Hoa khuyên - Bác có thiếu sản, liệu mà ... nấu bánh đúc làng đổi lúa Anh mà nói ra, người ta cho anh bêu riếu Việc thật nhà đêm 26 tháng 11 năm 1983, người hẳn cho bịa Cho đến nay, nghĩ đến, thảng hỏi mình "Cái đêm hôm đêm gì?" PHÙNG GIA ... tìm cho công Nhà xin khất đến mai, tìm bán chác, nộp tiền đủ Anh đầu tốp nháy nháy mắt hiệu - Đêm đêm nay! Mai thưởng chịu cho? - Bắt xe đạp ni, bay! Hai ba anh chạy lại Tôi từ tốn ngăn họ -... 7 392 0 Giải pháp thu hút vốn đầu tư trong nước vào việc phát triển kinh tế xã hội tỉnh kon tum ... THỰC TRẠNG THU HÚT VỒN ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH KON TUM Những nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư nước vào việc phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum ... đầu tư Thực trạng sách thu hút vốn đầu tư nước tỉnh Kon Tum Kết đạt thực sách thu hút vốn đầu tư nước tỉnh Kon Tum Chính sách hoàn thiện môi trường kinh doanh Môi trường đầu tư ... tế -xã hội tỉnh Kon Tum CHƯƠNG - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC Đầu tư vốn đầu tư Đầu tư Có nhiều quan niệm đầu tư, tùy theo mục đích góc độ nghiên cứu Trong phạm vi nghiên... 25 450 0 Xem thêm
Ở Việt Nam và cả nước ngoài, giới nghiên cứu thường coi năm 1986 với Đại hội Đảng lần thứ VI là thời điểm bắt đầu công cuộc Đổi mới. Trong thực tế, trước đó nhiều năm đã có hàng loạt mũi đột phá can đảm, gian nan, trầy trật, mưu trí, sáng tạo, mà theo cách gọi thời đó là những cuộc “phá rào”. Phá rào tức là vượt qua những hàng rào về quy chế đã lỗi thời để chủ động tháo gỡ nhiều ách tắc trong cuộc sống, đồng thời cũng góp phần từng bước dẹp bỏ hàng loạt rào cản cũ kỹ để mở đường cho công cuộc Đổi mới. Mục tiêu của cuốn sách này là góp phần dựng lại một bức tranh sống động, phong phú về những tìm tòi, tháo gỡ trong thời kỳ “phá rào” đó. Nói đến phá rào, trước hết cần trả lời câu hỏi Hàng rào là những gì? Đó chính là những thể chế, những nguyên tắc của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung được hình thành ở Liên Xô và sau đó được áp dụng tại hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa XHCN. Ở Việt Nam, mô hình này được áp dụng đầu tiên ở miền Bắc khi bước vào thập kỷ 60. Ngay từ thời kỳ đó, nó cũng đã bộc lộ nhiều nhược điểm. Đảng, Nhà nước, nhiều nhà kinh tế và nhiều cán bộ địa phương khi thấy rõ điều đó đã có ý thức tìm tòi giải pháp để khắc phục. Các phong trào “Ba xây, ba chống”, “Cải tiến quản lý hợp tác xã”, “Cải tiến quản lý xí nghiệp”… được phát động chính là do người ta đã phát hiện ra những vướng mắc của mô hình này và thử tìm cách khắc phục. Nhiều nhà kinh tế cũng đã đề xuất một số ý kiến có tính chất đột phá như Đa phương hóa xuất nhập khẩu, vận dụng quy luật giá trị trong việc hình thành giá thu mua. Một số địa phương, do sớm nhìn ra những nhược điểm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, đã chủ động áp dụng cơ chế khoán có nơi áp dụng lén lút như ở Kiến An, Hải Phòng năm 1962; có nơi tiến hành công khai và đại trà trên toàn tỉnh như Vĩnh Phúc năm 1966-1968. Tất cả những mũi đột phá đó đều không đi tới đích như dự kiến. Một phần vì quan hệ quốc tế lúc đó, một phần cũng vì trình độ tư duy chung của cả xã hội đương thời chưa chín muồi cho việc đổi mới. Vả lại, trong hoàn cảnh chiến tranh, nhiệm vụ đánh giặc được đưa lên hàng đầu, nên những ý tưởng cải cách vẫn còn phải chờ đợi nhiều thập kỷ nữa. Từ sau giải phóng miền Nam, mô hình kinh tế của miền Bắc được áp dụng cho cả nước. Nhưng hoàn cảnh lúc này đã khác. Nền kinh tế của miền Nam có hàng loạt đặc điểm mà không thể đơn giản áp đặt mô hình kinh tế của miền Bắc vào. Những phản ứng từ cuộc sống không dễ dập tắt chỉ bằng mệnh lệnh, lại càng không thể chỉ bằng một nhát đập bàn của một ai đó. Trước sự sa sút hiển nhiên về kinh tế từ những năm 1978-1979, khó còn có thể tiếp tục giải thích bằng những nguyên nhân nào khác ngoài bản chất cơ chế kinh tế và sự bất lực của những phương sách cứu chữa cũ. Từ đây, bắt đầu thời kỳ rất sống động của việc tìm tòi. Rất nhiều biện pháp phá rào đã diễn ra ở các đơn vị, các địa phương, rất đa dạng và phong phú về phương pháp, về bước đi, về kết quả và nhất là về những phản ứng dây chuyền dẫn tới những sửa đổi của chính sách. Dưới đây, xin lựa chọn 20 cuộc phá rào mà tác giả thấy có thể coi là tiêu biểu cho một ngành nghề, một lĩnh vực, một “nghệ thuật”... [...] Trong lần tái bản này, tác giả lấy lại để đưa vào khá nhiều cuộc phá rào ngoạn mục và tiêu biểu như - Khoán ở Vĩnh Phúc. - Khoán ở Nông trường Sông Hậu - Đột phá ở Nhà máy Dệt Nam Định. - Đột phá ở Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội. - Khoán ở Công ty Xe khách Thành phố Hồ Chí Minh. - Cuộc đấu tranh kiên trì gian khổ 20 năm để sửa đổi hệ thống giá. - Những đường dây buôn bán và thanh toán với nước ngoài… Ngoài phần lớn những chương mục do tác giả trực tiếp khảo sát và biên soạn, tác giả cũng lựa chọn để đưa lại vào đây 3 chương mà tác giả đã tiến hành cùng các đồng nghiệp trẻ, như chương Xí nghiệp Dệt Thành Công viết cùng bạn Cao Tuấn Phong, Cơ chế một giá của Long An viết cùng bạn Ngọc Thanh, Kho bạc viết cùng bạn Lê Mai. Trong việc tìm hiểu những cuộc phá rào dưới đây, tác giả đã cố gắng tìm cách tiếp cận tận nơi, tận chốn, gặp những người thật, nắm bắt những việc thật. Rất may là phần rất lớn những người chủ trương và những người tham gia các cuộc phá rào vẫn còn sống, còn khỏe mạnh, còn tỉnh táo để nhìn lại cả một chặng đường gian nan nhưng ngoạn mục mà họ đã đi qua. Dĩ nhiên, có những “chiến sĩ đột phá” không còn nữa, như ông Kim Ngọc ở Vĩnh Phúc, ông Năm Hoằng ở Hậu Giang. Ở trường hợp này, tác giả phải tìm lại những tài liệu, những người đương thời và gia đình để hiểu rõ sự việc. Đặng Phong THÔNG TIN KHÁC Vài nét giới thiệu về tác giả cuốn sách GS. Đặng Phong, sinh năm 1939, tại Hà Tây. - Tốt nghiệp Khoa Lịch sử, ĐH Hà Nội, 1960. - Tốt nghiệp Khoa Kế hoạch, ĐH Kinh tế Quốc dân, 1964. - Tốt nghiệp khóa đào tạo nâng cao, Học viện Kinh tế Địa Trung Hải IAM, Montpellier, Pháp, 1991. - Ủy viên Hội đồng Khoa học, Trưởng phòng Lịch sử Kinh tế, Viện Kinh tế Việt Nam. - Chủ nhiệm Khoa Kinh tế, ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. - Chủ nhiệm đề tài cấp bộ Biên niên kinh tế Việt Nam, 2008-2009. - Chủ nhiệm đề tài cấp bộ Từ đổi mới đến tư duy kinh tế, 2005-2006. - Chủ nhiệm đề tài cấp bộ Những mũi đột phá trong Kinh tế Việt Nam, 2003-2004. - Chủ nhiệm chương trình 65 năm kinh tế Việt Nam 1945-2010. - Phó Tổng Biên tập Tạp chí Thị trường & Giá cả, 1983-1995. - Chuyên gia mời, Viện nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội, Bắc Kinh, Trung Quốc, 2008. - Chuyên gia mời, Viện Hàn lâm Khoa học Cuba, 2007. - Gs. mời, ĐH Aix en Provence, 2007. - Gs. mời, ĐH Cambridge, 2005. - Cộng tác viên của Trung tâm Khoa học Quốc gia Pháp CNRS, 1998, 1999. - Gs. mời, ĐHQG Monterey Bay, California, 1997. - Chủ tịch Tiểu ban Kinh tế tại EURO-VIET III, Amsterdam, 1997. - Gs. mời, ĐH Macquarie, Sydney, 1996, 2000. - Chuyên gia mời, Ngân hàng Desjardin, Montréal, Canada, 1994. - Gs. mời, ĐH Irvine, California, 1994. - Gs. mời, ĐH Paris 7, 1991-1993. Một số tác phẩm của tác giả Đặng Phong đã xuất bản tại Nhà xuất bản Tri thức - Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989 Nhật ký thời bao cấp; 476 trang; 16x24cm; Giá bìa VND; Tủ sách Việt Nam Đương đại; Xuất bản lần đầu tháng 8/2008; tái bản lần I năm 2009; - 5 đường mòn Hồ Chí Minh; 396 trang; 16x24cm; Giá bìa VNĐ; Tủ sách Việt Nam Đương đại; Xuất bản lần đầu tháng 8/2008. - MỤC LỤC MỤC LỤC Lời tác giả Phần mở đầu TỪ GIẢI PHÓNG ĐẤT NƯỚC ĐẾN “CỞI TRÓI” CHO SẢN XUẤT I. Từ đại thắng đến đại hội 1. Mô hình kinh tế từ miền Bắc 2. Những vận hội sau ngày giải phóng 3. Hội nghị Trung ương lần thứ 24 4. Đại hội Đảng lần thứ IV II. Thiếu hụt, khủng hoảng và ách tắc 1. Viện trợ Mỹ được thay bằng cấm vận của Mỹ 2. Thiên tai - địch họa 3. Viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cũng giảm sút 4. Liệu pháp cải tạo 5. Kế hoạch 5 năm 1976-1980 Phần I TỪ XÍ NGHIỆP "XÉ RÀO" ĐẾN NHÀ NƯỚC SỬA ĐỔI “HÀNG RÀO” Chương 1. “Bung ra” và “cởi trói” tại hội nghị trung ương 6 1979 1. Thông báo số 10-TB/TƯ của Bộ Chính trị và những bừng tỉnh đầu tiên về quan điểm kinh tế 2. Đột phá tại Hội nghị Trung ương 6 Chương 2. Xí nghiệp Dệt Thành Công – từ “hấp hối” đến lá cờ đầu Chương 3. Nhà máy Dệt lụa Nam Định – “lệ làng” thành “phép vua” Chương 4. Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội – một tháng bằng nửa năm 1. Từ buông ra… 2. Đến bung ra Chương 5. Cơ chế ăn chia ở Xí nghiệp Đánh cá Côn Đảo – Vũng Tàu Chương 6. Seaprodex – Mô hình tự cứu Tự cân đối, tự trang trải, mở và hội tụ 1. “Từ đầu voi” đến “đuôi chuột” trong kế hoạch 5 năm lần thứ II 2. Từ “buông ra” đến “bung ra” 3. Mô hình tự cân đối 4. Liên doanh liên kết theo phương châm lấy mở để hội tụ 5. Tính thuyết phục của những kết quả Chương 7. Khoán ở Công ty Xe khách Miền Đông Thành phố Hồ Chí Minh 1. Tình hình trước khi thành lập công ty 2. Sự ra đời mô hình công ty quốc doanh vận tải hành khách 3. Phương pháp xây dựng kế hoạch 4. Thực tế của Input 5. Thực tế ở Output 6. Quá trình chuyển đổi cơ chế từ “bung ra”, “phá rào” tới cải cách Tiểu kết phần I. “SỬA RÀO” Phần II TỪ TIỂU NÔNG CÁ THỂ LÊN SẢN XUẤT LỚN RỒI VỀ VỚI KINH TẾ HỘ Chương 8. “Khoán Kim Ngọc” ở Vĩnh Phúc 1. Mô hình hợp tác xã và những vấn đề 2. Con đường đi tới quyết định “đột phá” 3. Phương thức khoán 4. Phản ứng từ thực tiễn 5. Những phản ứng khác nhau từ Trung ương 6. Tự phê bình và “sửa sai” cái đúng Chương 9. Khoán ở Hải Phòng 1. Thách đố mới Sau giải phóng… vẫn chưa được giải phóng 2. Đoàn Xá - đốm lửa từ một xã đi ăn mày 3. Sự “sáp nhập” về tư duy 4. Từ xã Đoàn Xá đến huyện Đồ Sơn 5. Từ Đồ Sơn lên thành phố 6. Sang huyện Kiến An 7. Lên đến Trung ương 8. Từ Trung ương đến cả nước Chương 10. Chuyện “tày đình”, nhưng trót lọt – Giải thể các tập đoàn máy kéo ở An Giang 1. Sự hình thành các trạm máy kéo 2. Chế độ thanh toán 3. Thức tỉnh và đột phá Chương 11. Từ chính sách Tam nông ở An Giang đến Nghị quyết 10 ở Bộ Chính trị 1. Tập thể hóa nông nghiệp ở miền Nam - chủ trương, bước đi, ách tắc 2. Từ chính sách Tam nông đến Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị Chương 12. Khoán ở Nông trường Sông Hậu 1. Giao đất cho nông dân 2. Tạo vốn ban đầu Tiểu kết phần II Phần III TỪ ”MUA NHƯ CƯỚP, BÁN NHƯ CHO” ĐẾN THUẬN MUA VỪA BÁN Chương 13. Giá – Hơn 20 năm đấu tranh 1. Bắt đầu ở miền Bắc, với vấn đề giá nông sản 2. Tiếp diễn ở miền Nam 3. Thay đổi nhân sự và tổng điều chỉnh giá - thắng lợi bước đầu Chương 14. Công ty Lương thực Thành phố Hồ Chí Minh dùng “xe cứu đói” vượt “đèn đỏ” 1. Từ tính cách một con người đến tính cách một tập thể 2. Tình hình lương thực thành phố những năm sau giải phóng 3. “Tổ buôn lậu gạo” 4. Từ lề đường vào chính lộ Chương 15. An Giang phá giá mua lúa, làm rung chuyển hệ thống “giá chỉ đạo” 1. Tình hình thu mua theo cơ chế cũ 2. Đột phá về mua lúa 3. Kết quả trực tiếp Mua lúa vượt mức kế hoạch 4. Những phản ứng dây chuyền của việc đột phá giá mua lúa Chương 16. Long An bỏ tem phiếu, chuyển sang cơ chế một giá 1. Bối cảnh 2. Ý tưởng 3. Cuộc thử thách thứ nhất 1977-1978 4. Tìm kiếm sự đồng thuận 5. Những bước tiến tới cải tiến mua và bán 6. Những kết quả hiển nhiên 7. Sự lan tỏa của mô hình Long An Chương 17. Từ Kho bạc An Giang đến hệ thống Kho bạc cả nước 1. Hoạt động ngân sách quốc gia 2. Thành lập Kho bạc Nhà nước tỉnh An Giang 3. Kho bạc Nhà nước An Giang thực hiện những ý tưởng sáng tạo. Tự ngân khố lo được tiền mặt Tiểu kết phần III Phần IV TỪ ĐỘC QUYỀN NGOẠI THƯƠNG CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẾN NHỮNG “RỪNG” IMEX Chương 18. Những đường dây buôn bán tư nhân với nước ngoài 1. Với Liên Xô và Đông Âu 2. Với Lào 3. Với Campuchia 4. Hàng Vosco 5. Thị trường ngầm trong nước đối với khách quốc tế 6. Thanh toán ngầm và ngân hàng ngầm Chương 19. Các “IMEX” 1. “Trói” 2. Hai hình thức cởi trói “lén” đầu tiên sau giải phóng “Cấp cứu” và trao đổi trực tiếp 3. Sự ra đời của các “IMEX” 4. Lách cơ chế bằng phương thức “kiều hối nguyên liệu” Chương 20. Vietcombank – Người “tiếp tay” 1. Vietcombank và ý tưởng đột phá đầu tiên ra thị trường tài chính thế giới 2. Hai mươi năm sau 3. Vai trò đầu tàu của Vietcombank Thành phố Hồ Chí Minh Tiểu kết phần IV Thay kết luận NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ NHỮNG MŨI ĐỘT PHÁ 1. “Xả lũ” chứ không “vỡ bờ” 2. Sức sống của kinh tế thị trường 3. Bắt đầu từ cuộc sống, từ dân, từ dưới lên 4. Những điểm tựa lịch sử 5. Từ mâu thuẫn đến đồng thuận 6. Vừa đi vừa mở đường 7. Hệ quả hai mặt 8. Tổng quan về lộ trình 9. So sánh quốc tế Sách và tài liệu tham khảo Biên niên các sự kiện liên quan đến những đột phá về kinh tế
phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới