Xuất huyết não màng não do thiếu vitamin K ở trẻ nhỏ thường phát bệnh sớm, có hơn 90% bệnh khởi phát khi bé được 30 – 90 ngày tuổi, thậm chí một số bé có nguy cơ bị bệnh ngay khi vừa cất tiếng khóc chào đời cho đến 3 tháng tuổi; có rất ít trường hợp bé mắc bệnh
ĐẶT VẤN ĐẾ Đột quỵ não là bệnh lý thần kinh thường gặp ở người lớn tuổi trên khắp thế giới. Đột quỵ là nguyên nhân thứ hai dẫn đến tử vong trên thế giới sau bệnh tim mạch, chiếm 11,8% tử vong trên toàn cầu và đứng hàng thứ 5 tại Hoa Kỳ, cứ 4 phút có một
Sản giật, xuất huyết não thất ở trẻ sơ sinh, bệnh mạch máu sau sinh,… Sự hình thành bất thường của collagen trong thành mạch máu. Dựa trên những nguyên nhân gây sốt xuất huyết não trên, chúng ta có thể phòng ngừa bệnh bằng cách giảm bớt yếu tố nguy cơ như:
Ở trẻ sơ sinh, hệ đông cầm máu chưa hoàn chỉnh. Cấu tạo thành mạch còn mỏng. Đám rối quanh não thất được tăng tưới máu và là tổ chức non yếu của não nên dễ bị xuất huyết. Giảm Prothombin sinh lí (ngay ngày đầu và ngày thứ 3, thứ 5) sau đẻ do thiếu vitamin K. 2.4.
Ngày đăng: 27/07/2014, 18:20. XUẤT HUYẾT NÃO – MÀNG NÃO TRẺ SƠ SINH Mục tiêu 1. Nêu được giải phẫu bệnh, nguyên nhân, lâm sàng, dịch tễ học, tiến triển của bệnh xuất huyết trong não thất ở trẻ sơ sinh đẻ non 2. Trình bày được bệnh sinh, nguyên nhân, lâm sàng của bệnh
o5IKc. Xuất huyết não là vấn đề có thể gặp ở bất cứ ai, trong đó phổ biến hơn cả là trẻ sơ sinh. Do di chứng xuất huyết não ở trẻ sơ sinh vô cùng nguy hiểm, bởi thế việc áp dụng các giải pháp điều trị sớm là điều vô cùng quan trọng và cần thiết. 1. Nguyên nhân xuất huyết não ở trẻ sơ sinh là gì? Xuất huyết não là khái niệm để chỉ tình trạng một mạch máu não bị vỡ, rò rỉ gây chảy máu não và màng não. Với trẻ sơ sinh, hiện tượng này thường xuất hiện ở lớp màng xương sọ, phổ biến ở những trẻ sinh non hoặc mẹ mang thai khi lớn tuổi dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm trong đó có tử số nguyên nhân thường dẫn đến hiện tượng này gồm cóTrẻ đẻ non Theo các tài liệu khảo sát, có khoảng 15 - 20 % trẻ đẻ non, trẻ non tháng 20s, bỏ bú hoặc bú ít, mệt mỏi lừ đừ, khóc thét, co giật nhẹ, thóp đưa đến bệnh viện, trẻ sẽ được tiến hành cầm máu, ngăn ngừa chảy máu màng não. Nếu xuất hiện các ổ tụ máu sẽ cần can thiệp phẫu thuật loại bỏ. Nếu nguyên nhân xuất huyết do thiếu Vitamin K, trẻ sẽ cần được tiêm bổ sung Vitamin K, bổ sung kết hợp với chăm sóc đặc những trẻ xuất huyết não nặng rơi vào hôn mê, không bú sẽ được cần được theo dõi đặc biệt, hỗ trợ thở và bổ sung dinh dù áp dụng các giải pháp điều trị trên nhưng tỉ lệ trẻ tử vong và di chứng do xuất huyết não ở mức khá cao. Vì thế, việc dự phòng bệnh là điều cần được ưu tiên hàng đầu. 4. Giải pháp phòng ngừa bệnh xuất huyết não ở trẻ Xuất huyết não ở trẻ sơ sinh có thể để lại nhiều di chứng cho trẻ nên việc phòng ngừa là điều vô cùng quan trọng và cần mẹ bầu, bạn cần chú ý chăm sóc sức khỏe và bổ sung dinh dưỡng đầy đủ ở thời kỳ mang thai. Những thực phẩm giàu Vitamin K mà bạn nên ưu tiên sử dụng gồm thịt bò, thịt lợn nạc, trứng gà, ngũ cốc, rau xanh, trứng gà, sữa,... Khi được chẩn đoán thiếu Vitamin K, mẹ bầu có thể tiêm bắp 5mg vào 2 tuần cuối trước khi khi sinh, trẻ vẫn cần nhận Vitamin K từ sữa mẹ hoặc bổ sung từ bên ngoài bằng cách tiêm bổ sung Vitamin K Thông thường tiêm 1 mũi Vitamin K1 1mg hoặc Vitamin K3 2mg. Trẻ sơ sinh cũng có thể uống vitamin K với liều 3 lần, sau khi sinh, lúc 7 ngày tuổi và 1 tháng tuổi Mỗi lần 2mg.Trên đây là những thông tin cần biết về xuất huyết não ở trẻ sơ sinh mà các bậc phụ huynh có thể tham khảo. Do việc điều trị bệnh thường gặp nhiều khó khăn, thế nên bố mẹ cần áp dụng các giải pháp phòng ngừa để đảm bảo an toàn cho sức khỏe của trẻ. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Thiếu vitamin K có thể gây xuất huyết não ở trẻ nhỏ Phòng ngừa thiếu vitamin K và xuất huyết não ở trẻ Tại sao con người dễ bị bầm tím?
Hiện nay, Bộ Y tế đã cho thực hiện việc cung cấp vitamin K cho trẻ ngay sau khi sinh nhằm bảo vệ trẻ khỏi nguy cơ xuất huyết não, màng não do thiếu vitamin K. Việc cung cấp vitamin K cho trẻ sơ sinh được thực hiện theo hai hình thức uống hoặc tiêm. Nguyên nhân gây xuất huyết ở trẻ sơ sinh Nguyên nhân chính gây ra hiện tượng xuất huyết ở trẻ là do thiếu vitamin K. Vitamin K đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cơ thể bé khỏe mạnh và phát triển toàn diện. Một số loại vi khuẩn sống trong ruột và đại tràng hệ đường ruột cũng cung cấp một lượng vitamin này cho cơ thể trẻ. Vitamin K còn được tìm thấy nhiều trong các loại rau xanh. Có một số lý do giải thích tại sao trẻ sơ sinh lại dễ bị thiếu hụt vitamin K. Thứ nhất, chỉ có một lượng nhỏ vitamin K được truyền qua nhau thai trong thai kỳ. Thứ hai, sữa mẹ chỉ chứa một lượng nhỏ vitamin K. Bên cạnh đó, các lợi khuẩn trong hệ đường ruột lợi khuẩn Lactobacillus ở trẻ bú sữa mẹ cũng không thể tổng hợp được vitamin K. Các triệu chứng xuất huyết dễ nhận biết nhất Nếu con bạn bị xuất huyết, bé có khả năng phát triển không bình thường trước khi xuất hiện xuất huyết nghiêm trọng. Những triệu chứng này bao gồm Có dấu hiệu chảy máu không đáng kể Cân nặng thấp so với tuổi của bé Ít tăng cân. Xuất huyết ở trẻ sơ sinh có nguy cơ xảy ra ở một hoặc nhiều khu vực bao gồm Gốc rốn, khu vực ẩm ướt nơi dây rốn được cắt Màng nhầy ở mũi và miệng Dương vật nếu bé được cắt bao quy đầu Những nơi bị kim đâm khi tiêm chủng Hệ tiêu hóa Da. Nếu bé bị xuất huyết, đôi khi bạn sẽ thấy máu xuất hiện trong phân hay nước tiểu của bé. Ngoài ra, dấu hiệu xuất huyết còn biểu hiện qua các vết thâm tím hoặc khối u trên đầu. Nếu khối u ngày càng lớn, có khả năng đây là dấu hiệu của chứng u máu đầu. Tình trạng u máu lành tính có thể hết sau một thời gian. Tuy nhiên, các khối u máu cũng có thể là dấu hiệu của tình trạng xuất huyết nội sọ. Đây là tình trạng nguy hiểm đe dọa đến tính mạng. Do đó nếu có nghi ngờ, bạn hãy đưa trẻ đi khám ngay. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh Các yếu nguy cơ gây bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh tùy thuộc vào giai đoạn khởi phát bệnh 1. Giai đoạn khởi phát sớm Xuất huyết ở trẻ sơ sinh xảy ra trong vòng 24 giờ đầu tiên sau khi sinh được gọi là xuất huyết sơ sinh giai đoạn khởi phát sớm. Bé có nguy cơ phát bệnh nếu trong thai kỳ bạn có sử dụng một số loại thuốc nhất định trong khi mang thai. Các loại thuốc thường là Thuốc chống co giật gây trở ngại cho quá trình chuyển hóa vitamin K như phenytoin, phenobarbital, caramezepine, primidone Thuốc làm loãng máu như warfarin Coumadin, aspirin Thuốc kháng sinh hạn như cephalosporin Thuốc chống lao như rifampin, isoniazid. 2. Giai đoạn khởi phát cơ bản Xuất huyết ở trẻ sơ sinh xảy ra trong tuần đầu tiên sau khi sinh, thường là ở những trẻ chưa được bổ sung vitamin K dự phòng khi sinh bằng đường uống hoặc tiêm. Nếu bú mẹ hoàn toàn và không được bổ sung vitamin K, bé có nguy cơ mắc bệnh cao hơn các trẻ khác. 3. Giai đoạn khởi phát muộn Xuất huyết ở trẻ sơ sinh xảy ra ở trẻ từ 2 tuần đến 6 tháng tuổi được gọi là xuất huyết ở giai đoạn khởi phát muộn. Bệnh này thường xảy ra ở những trẻ không được tiêm vitamin K. Các yếu tố nguy cơ bao gồm Hàm lượng vitamin K trong sữa mẹ thấp Hẹp đường mật gây tắc mật Xơ nang Bệnh celiac Tiêu chảy mãn tính Viêm gan Thiếu A1-antitrypsin có thể gây các bệnh liên quan đến bệnh phổi và gan. Chẩn đoán và điều trị xuất huyết ở trẻ sơ sinh Nếu nghi ngờ trẻ bị xuất huyết, các bác sĩ sẽ cho thực hiện các xét nghiệm đông máu và cho bé bổ sung vitamin K1. Nếu điều này ngăn chặn được tình trạng xuất huyết, bác sĩ sẽ xác nhận nguyên nhân xuất huyết là do thiếu hụt vitamin K. Nếu con bạn được chẩn đoán chảy máu do thiếu vitamin K, bác sĩ sẽ đưa ra phác đồ điều trị cụ thể, bao gồm truyền máu nếu xuất huyết xảy ra ở mức độ rất nặng. Việc điều trị sẽ đạt kết quả tốt cho trẻ sơ sinh có các triệu chứng khởi phát sớm hoặc các triệu chứng khởi phát cơ bản. Tuy nhiên, tình trạng chảy máu do thiếu vitamin K nếu được phát hiện muộn sẽ trở nên nghiêm trọng hơn và dẫn đến nguy cơ chảy máu trong sọ cao, gây ra tổn thương não hoặc tử vong. Nếu cho bé bú sữa mẹ, bạn nên tham khảo bác sĩ về các bước giúp bé hấp thu đủ vitamin K. Ngoài ra, việc bổ sung vitamin K cho trẻ sơ sinh cũng là một biện pháp dự phòng giúp bé khỏi tình trạng xuất huyết do thiếu hụt vitamin K.
Bài viết được viết bởi BSCK I Bùi Thị Hà, Khoa Nhi - Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long Trẻ sinh non thường gặp rất nhiều bệnh lý như vàng da, viêm phổi, suy hô hấp, nhiễm trùng sơ sinh, chậm phát triển tinh thần và vận động, bệnh võng mạc... do hệ miễn dịch yếu và các cơ quan chưa phát triển hoàn thiện. 1. Trẻ được gọi là sinh non khi nào? Trẻ được gọi là sinh non khi sinh ra dưới 37 tuần tuổi thai là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và di chứng ở sơ sinh. Trẻ sơ sinh ra đời dưới 28 tuần được gọi là sơ sinh cực non, trẻ sinh từ 28 – 34 tuần là trẻ sinh non tháng, trẻ sinh từ 34 – 37 tuần là trẻ sinh non muộn. Trẻ sơ sinh “có thể sống” được bắt đầu từ 22 tuần tuổi thai và cân nặng > 500gram. Trẻ sinh càng non thì nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, thể chất và để lại các di chứng càng cao. Trẻ dễ bị các bệnh nhưSuy hô hấp do phổi chưa trưởng thành, dễ mắc các bệnh viêm phổi, viêm phế quản;Xuất huyết não;Hạ thân nhiệt;Nhiễm trùng sơ sinh;Vàng da;Loạn sản phổi;Bệnh võng mạc ở trẻ đẻ non;Di chứng chậm phát triển tinh thần, vận động. Trẻ sinh non dễ bị suy hô hấp Suy hô hấp Trẻ sinh non thường mắc bệnh lý suy hô hấp do hệ hô hấp của trẻ chưa phát triển hoàn chỉnh nên trẻ dễ bị suy hô hấp do thiếu chất surfactant, cơ hô hấp của trẻ yếu, trẻ dễ bị các cơn ngừng thở kéo dài >20 giây trong những ngày đầu sau sinh, trẻ khó thở, tím tái sau sinh thường gặp ở trẻ đẻ non dưới 34 tuần. Trẻ hay bị viêm phổi, viêm phế quản... Xuất huyết não sơ sinh Trẻ sinh non thường bị xuất huyết não sơ sinh, do thành mạch dễ vỡ, có thể vỡ bất kỳ các mạch máu nào ở màng não và não. Tỷ lệ gặp ở trẻ sơ sinh cao, đặc biệt là trẻ đẻ non, tỷ lệ tử vong cao. Nếu cấp cứu được thì trẻ thường để lại di chứng cao như bại não, chậm phát triển vận động tinh thần, hẹp hộp sọ, động hiện Trẻ kích thích, bỏ bú, khóc thét, hoặc rên è è, sốt hoặc hạ thân nhiệt, hoặc co giật, li bì, hôn mê. Có thể thấy trẻ tím tái, thóp phồng căng, khớp sọ giãn Xuất huyết não sơ sinh là bệnh lý nguy hiểm ở trẻ sinh non Hạ thân nhiệt Là bệnh lý hay gặp ở trẻ sơ sinh đặc biệt là ở trẻ đẻ non, do quá trình điều hòa bị mất cân bằng, diện tích da/ cân nặng lớn, lượng mỡ dưới da ít đặc biệt là lớp mỡ nâu ít, thiếu năng lượng để chuyển hóa và sinh hiện toàn thân lạnh, da ở tay chân xanh nhợt, khóc yếu ớt, bú kém, giảm hoạt động, thờ ơ. Hô hấp trẻ có khó thở, thở nhanh nông, thở không đều, nặng có thể suy hô hấp, ngừng thở, rối loạn nhịp tim. Nhiễm trùng sơ sinh Trẻ sơ sinh càng non thì hệ miễn dịch càng yếu trẻ càng dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Tỷ lệ nhiễm trùng ở nam và nữ là như nhau. Triệu chứng bệnh thường không điển hình, bệnh thường nặng và nguy cơ tử vong cao. Có thể gặp nhiễm trùng sơ sinh sớm xảy ra trong 3 ngày đầu sau sinh hoặc nhiễm trùng sơ sinh muộn thường xảy ra muộn sau 3 ngày sau sinh.Biểu hiệnNhiệt độ không ổn định có thể sốt hoặc hạ nhiệt thể có sụt hấp Xanh tím, rối loạn nhịp thở, thở rên, thở nhanh > 60 lần/phút + co kéo, ngừng thở > 15 mạch xanh tái, da nổi bông, nhịp tim nhanh > 160 lần/phút, lạnh đầu chi, thời gian hồng trở lại của da kéo dài > 3s, huyết áp hóa Bú kém, bỏ bú, chướng bụng, nôn ói, tiêu chảy, dịch dạ dày ứ > 2/3 số lượng sữa bơm của bữa trước. Gan, lách to. Trẻ bị nhiễm trùng sơ sinh thường có triệu chứng bỏ bú hoặc bú kém Da và niêm mạc Da tái, nổi vân tím, phát ban, xuất huyết, vàng da sớm trước 24 giờ, phù cứng bì, viêm da có mủ, viêm rốn. Có thể có tử ban, tụ máu dưới da, xuất huyết nhiều kinh Tăng hoặc giảm trương lực cơ, dễ bị kích thích, co giật, thóp phồng, giảm phản xạ, hôn mê. Vàng da Vàng da là thường xảy ra ở tất cả các trẻ sinh non, do Bilirubin tăng cao, sắc tố màu vàng được tạo ra trong quá trình thủy phân hồng cầu bình thường. Ở sơ sinh các tế bào hồng cầu luôn được tạo mới và phá hủy diễn ra nhiều hơn, khi hồng cầu bị vỡ giải phóng ra ra hemoglobin, chất này sẽ chuyển hóa tạo thành Bilirubin. Bilirubin sẽ được chuyển hóa tại gan và đào thải ra ngoài qua phân và nước tiểu. Ở trẻ đẻ non chức năng gan của trẻ còn kém nên khả năng Loạn sản phế quản phổi Do phổi của trẻ đẻ non chưa hoàn thiện phải thở máy áp lực cao và thời gian kéo dài, đặc biệt là ở trẻ đẻ non dưới 32 tuần. Khi trẻ bị loạn sản phế quản phổi có thể gây tăng áp lực động mạch phổi, xẹp phổi, xơ phổi, gây nhiễm trùng nặng, suy tim... nguy cơ tử vong hiện Thở nhanh, rút lõm lồng ngực, tím tái, phụ thuộc oxy. Chụp X-quang phổi tùy từng giai đoạn khác nhau mà có hình ảnh khác nhau. Có thể thấy tăng thể tích phổi, sợi, đám mờ, hoặc dạng nang, nhiều vùng ứ khí. Bệnh loạn sản phế quản phổi ở trẻ sinh non rất dễ gây tử vong Bệnh võng mạc ở trẻ đẻ non Là tình trạng bệnh lý tại mắt do sự phát triển bất thường của mạch máu của trẻ đẻ non, cân nặng thấp. Thường gặp ở trẻ đẻ non thở oxy kéo dài, thở oxy nồng độ cao. Bệnh có thể gây mù lòa nếu không được khám, điều trị kịp thời. Dựa vào khám thực, căn cứ vào các vị trí tổn thương, giai đoạn tiến triển và mức độ giãn của mạch máu võng mạc mà quyết định điều trị hay theo dõi cho trẻ. Hệ miễn dịch yếu Trẻ sơ sinh hệ miễn dịch thường yếu, đặc biệt là trẻ đẻ non mọi cơ quan đều chưa hoàn thiện, chính vì vậy trẻ rất dễ bị mắc nhiều bệnh như viêm đường hô hấp trên, viêm phổi, viêm phế quản... và khi bị bệnh thường khó hồi phục Trẻ sinh non có hệ miễn dịch yếu dễ bị viêm phổi Di chứng chậm phát triển tinh thần, vận động Trẻ sinh non các cơ quan tổ chức phát triển chưa hoàn thiện, trẻ dễ có nguy có bị xuất huyết não, nhiễm trùng nặng...Trẻ sinh non thường để lại các di chứng về vấn đề chậm phát triển khả năng học tập và nhận thức kém, các khiếm khuyết về nhận thức và hành vi thể nhẹ hơn, thiểu năng nặng, bại não, tổn thương thị lực và thính lực, gia mắc các phổ tự hiệnChậm vận động trẻ chậm biết lật, ngồi, bò, đứng, đi khi đến tuổi, chậm phát triển vận động thô ở mức độ biết nói, hoặc khó nói, chậm phát triển trí tuệ, bại thính lực, thị lực. Tỉ lệ này thường gia tăng ở những trường hợp xuất huyết trong não thất hay nhuyễn chất trắng cạnh não thất. 3. Điều trị Trẻ đẻ non tháng có tỷ lệ tử vong và mắc bệnh cao hơn rất nhiều so với trẻ đẻ đủ tháng. Điều trị trẻ đẻ non luôn là một thách thức đối với các bác sĩ nhi khoa và là vấn đề của toàn xã hội. Ở trẻ sinh non các cơ quan đều chưa hoàn thiện, nên trẻ đối diện với nhiều nguy cơ nên trẻ cần được chuẩn bị đầy đủ về thể chất để sẵn sàng thích nghi với môi trường sống bên ngoài. Tùy theo các nguyên nhân, triệu chứng biểu hiện bệnh lý khác nhau mà có kế hoạch điều trị cụ thể. Ở trẻ đẻ non cần chú ý đến vấn đề chăm sóc, theo dõi trẻ đẻ nonTheo dõi về hô hấp và oxy liệu pháp Trẻ sinh non có nguy cơ thiếu hụt surfactant, dễ xuất hiện những cơn ngừng thở. Nếu không được theo dõi và phát hiện kịp thời trẻ có nguy cơ tử ngừa hạ thân nhiệt giữ nhiệt độ cơ thể bé 36 -37 độ C, chân ấm, hồng. Đảm bảo nhiệt độ cho trẻ bầng cách cho trẻ nằm lồng ấp, giường sưởi, hay cho trẻ tiếp xúc da kề da Chăm sóc KangarooChú ý dinh dưỡng cho trẻ Nên khuyến khích cho trẻ bú mẹ, nếu trẻ không bú được cho trẻ ăn bằng ống thông, hoặc đổ thìa...Theo dõi lượng ăn của trẻ để đảm bảo đủ dinh dưỡng và cung cấp yếu tố vi lượng hàng ngày khi trẻ đã dung nạp tốt sữa mẹ..Đảm bảo môi trường vô khuẩn, sạch sẽ, chú ý vệ sinh tay khi tiếp xúc với trẻ, hạn chế. Nên để trẻ da kề da với mẹ sớm để phòng ngừa hạ thân nhiệt Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã từng tiếp nhận và chữa trị thành công nhiều ca trẻ sinh non đặc biệt có trường hợp sinh cực non trẻ sinh non 24 tuần cân nặng chỉ 600gramĐiều trị và chăm sóc sức khoẻ trẻ sinh non là một trong những kỹ thuật vô cùng phức tạp, nguy cơ rủi ro cao.. Tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, các ca sinh non đều được tổ chức bài bản dưới sự phối hợp của nhiều chuyên khoa khoa sản, khoa gây mê và đặc biệt là khoa sơ sinh, khoa nhi. Việc này giúp hạn chế rủi ro và tăng hiệu quả điều trị đối với những vấn đề về sức khỏe mà trẻ sinh non có thể gặp đó, kỹ thuật điều trị trẻ sinh non tại Vinmec đã thu được những hiệu quả vô cùng tích cực, cứu sống nhiều ca sinh non tưởng chừng như vô vọng Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Video đề xuất Hướng dẫn chiếu đèn điều trị vàng da sơ sinh XEM THÊM Các vấn đề về phổi ở trẻ sinh non Phụ nữ mang thai bị động kinh Phụ nữ mang thai bị động kinh
Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Thị Ân - Bác sĩ Nhi - Sơ sinh - Khoa Nhi - Sơ sinh - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long. Bác sĩ là người rất tâm huyết với công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ em và có kinh nghiệm điều trị thành công nhiều ca bệnh xuất huyết não - màng sớm ở trẻ nhỏ. Xuất huyết ở trẻ sơ sinh là một tình trạng nguy hiểm, thường gặp nhất là xuất huyết dưới da, xuất huyết não, màng não...Xuất huyết não đến mức độ nghiêm trọng dẫn đến chèn ép hoặc tổn thương mô não dẫn đến tỷ lệ tử vong cao, tỷ lệ để lại di chứng tới 40-50%. 1. Xuất huyết não ở trẻ sơ sinh là gì? Xuất huyết não ở trẻ sơ sinh là một trong những chấn thương khi sinh, có mức độ từ nhẹ đến cực kỳ nghiêm nhân của xuất huyết não ở trẻ sơ sinh có thể là do ngạt khi sinh, vì thiếu oxy trong lúc chuyển dạ hoặc ngay sau chào đời, hoặc do các chấn thương khi sinh, chấn thương do lực cơ học quá mức tác động trên đầu của trẻ, có thể do rối loạn đông máu. Trong nhiều trường hợp, đây cũng có thể là biến chứng xuất phát từ những sơ suất y tế trong quá trình đỡ sinh. Ví dụ, các bác sĩ có thể sử dụng sai cách các công cụ như kẹp gắp và giác hút...Cho dù là nguyên nhân nào, cần bắt buộc phải chẩn đoán xuất huyết não ở trẻ sơ sinh càng sớm càng tốt để trẻ được điều trị kịp thời và hạn chế di chứng nặng nề trong tương lai. 2. Các loại xuất huyết não ở trẻ sơ sinh là gì? Có nhiều loại xuất huyết não ở trẻ sơ sinh khác nhau, bao gồm xuất huyết nội sọ bên trong não và xuất huyết ngoại sọ bên ngoài não. Xuất huyết nội sọ Đột quỵ thể xuất huyết Đột quỵ thể xuất huyết xảy ra khi mạch máu bị vỡ ra, gây chảy máu lan tràn trong nhu mô não. Điều này có thể khiến một nhóm tế bào não bị thiếu oxy và chất dinh dưỡng. Đột quỵ xuất huyết cũng có thể dẫn đến sự tích tụ áp lực, gây kích thích và sưng phù nhu mô não, cuối cùng gây tổn thương não ở trẻ sơ sinh. Xuất huyết dưới nhện Xuất huyết dưới nhện được đặc trưng bởi chảy máu từ các mạch máu trong khoang dưới nhện, là khu vực trong cùng của hai màng bao phủ nhu mô não. Xuất huyết não thất Xuất huyết não thất xảy ra khi có chảy máu vào hệ thống não thất trong nhu mô não, nơi vốn có chức năng sản xuất và dẫn lưu dịch não tủy. Đây là một loại chảy máu nội sọ rất nghiêm trọng và thường thấy ở trẻ sinh non và trẻ sơ sinh có cân nặng lúc sinh thấp. Cơ chế là do các mạch máu trong não của trẻ sinh non chưa phát triển đầy đủ và do đó sẽ yếu hơn so với trẻ đủ tháng. Không những vậy, tình trạng thiếu oxy và các chấn thương khi sinh cũng có thể góp phần gây xuất huyết não thất. Xuất huyết não thất thường xuyên xảy ra đối với trẻ sinh non Xuất huyết dưới màng cứng và tụ máu dưới màng cứng Xuất huyết dưới màng cứng xảy ra khi có một hoặc nhiều mạch máu trong không gian dưới màng cứng vỡ ra. Nguyên nhân gây vỡ các mạch máu tại vị trí này thường do các chấn thương, có thể bao gồm cả chấn thương trong lúc chuyển dạ. Xuất huyết ngoại sọ Tụ máu đầu Một vết sưng trên da đầu, có thể kèm theo xuất huyết, trải dài theo viền miệng của máy hút đặt trên đầu trẻ. U máu đầu U máu đầu là một dạng xuất huyết não đặc trưng bởi sự chảy máu xảy ra giữa hộp sọ và lớp da đầu. Đây có thể là tình trạng nặng nề hơn của tụ máu đầu khi dùng giác hút hay đầu trẻ nằm quá lâu trong đường sinh dục dưới của mẹ trong khi chuyển dạ kéo dài. U máu đầu có thể tự biến mất, nhưng cần được theo dõi cẩn thận bởi các bác sĩ sơ sinh. Đôi khi em bé cần điều trị các biến chứng liên quan như thiếu máu và vàng da. Tụ máu ngoài màng cứng Tình trạng có sự hiện diện của máu tích tụ ở khu vực giữa lớp màng cứng và hộp sọ, nơi vốn chỉ có mô liên kết lỏng lẻo. 3. Yếu tố nguy cơ xuất huyết não ở trẻ sơ sinh như thế nào? Các yếu tố nguy cơ thường gặp và nguyên nhân gây xuất huyết nội sọ ở trẻ bao gồmThai to Đây là một tình trạng mang thai trong đó thai nhi có kích thước lớn hơn mức độ trung bình đối với tuổi thai, có thể làm cho quá trình chuyển dạ sinh đường âm đạo trở nên nguy cân xứng đầu chậu Bất cân xứng đầu chậu cũng thuộc một trong những vấn đề tương tự như thai to. Bên cạnh đó còn có sự không phù hợp về kích thước giữa đầu thai nhi và khung xương chậu mẹ khi đầu to bất thường và/hoặc xương chậu nhỏ một cách bất thai, phần trình diện của thai nhi bất thường, chẳng hạn như ngôi mông, ngôi mặt hoặc ngôi thương do chuyển dạ kéo loạn về đông cầm máu, chẳng hạn như thiếu vitamin K hoặc bệnh máu khó đông bẩm não do thiếu oxy gây thiếu máu cục bộ Bệnh não do thiếu oxy gây thiếu máu cục bộ là một chấn thương não sơ sinh nguy hiểm do giảm oxy và lưu lượng máu đến trẻ tại hoặc gần thời điểm sinh. Việc thiếu lưu lượng máu dẫn đến chết các tế bào hàng loạt và khiến các thành mạch máu bị phá vỡ, dẫn đến chảy máu ra khỏi lòng can thiệp y tế trong quá trình chuyển dạ như kẹp gắp hay dùng máy hútRặn sinh không đúng giai đoạn Kỹ thuật rặn sinh không đúng cách. Đồng thời, người đỡ sinh vặn hoặc kéo quá mức trên đầu trẻ sơ sinh... Xuất huyết não ở trẻ sơ sinh có thể do sự bất thường của ngôi thai 4. Dấu hiệu và triệu chứng xuất huyết não ở trẻ sơ sinh có nguy hiểm không? Các triệu chứng xuất huyết nội sọ ở trẻ sơ sinh sẽ thay đổi dựa trên loại và mức độ nghiêm trọng của bệnh lý. Trong đó, những dấu hiệu sau đây sẽ tương đối thường kém hoặc bỏ búKhóc thétThóp phồngTri giác giảm sút, lừ đừ, ngủ gàĐộng kinhCó cơn ngưng thở kéo dàiThở nông hoặc thở nhanh 5. Chẩn đoán xuất huyết não ở trẻ sơ sinh như thế nào? Khi có các dấu hiệu xuất huyết não hay nghi ngờ khả năng này có thể xảy ra, nhất là trên các trẻ sơ sinh có nguy cơ cao, việc chẩn đoán xuất huyết não sẽ cần phải sử dụng các công cụ hình ảnh để xác nhận sự hiện diện của máu tự do trong hộp sọ. Các phương tiện phổ biến bao gồm Siêu âm Doppler xuyên sọ Bằng cách sử dụng sóng âm thanh để đo lưu lượng, tốc độ dòng máu và sự cản âm của các cấu trúc, siêu âm Doppler xuyên sọ là một xét nghiệm không xâm lấn, cung cấp hình ảnh về lưu lượng máu tổng thể trong toàn bộ nhu mô não. Phương tiện này khá được ưa chuộng ở trẻ em nhờ vào các thóp sọ - đóng vai trò như các “cửa sổ” tự nhiên. Chụp cộng hưởng từ hay chụp cắt lớp sọ não MRI hay CT Scan Những phương tiện hình ảnh học này được thực hiện khá dễ dàng, cho thấy chi tiết các cấu trúc trong sọ não. Tuy nhiên, đây là tiềm ẩn nguy cơ phơi nhiễm tia X ở trẻ nhỏ. Chụp động mạch có cản quang Đây là một thủ thuật xâm lấn. Trong đó, bác sĩ sẽ luồn một ống mỏng, kích thước rất nhỏ được đưa vào các mạch máu dẫn máu trực tiếp đến não và sau đó bơm thuốc nhuộm tương phản vào. Hình ảnh mạch máu quan sát được sẽ hiện rõ lên nhờ độ tương phản của thuốc trong lòng mạch. Nếu thuốc thoát ra khỏi lòng mạch là bằng chứng rõ ràng cho chẩn đoán xuất huyết não. Tuy nhiên, phương tiện này không được ưu tiên sử dụng đầu tiên do có nguy cơ gây tổn thương khi thực hiện thủ thuật, đồng thời cũng có nguy cơ phơi nhiễm tia X và các tai biến khi dùng thuốc cản quang. 6. Các cách điều trị xuất huyết nội sọ ở trẻ sơ sinh? Điều trị xuất huyết não ở trẻ sơ sinh phụ thuộc phần lớn vào kích thước của khối máu chảy, nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ cũng như đặc điểm về thể trạng hiện thời của lựa chọn điều trị có thể bao gồm điều trị nội khoa và điều trị ngoại khoa tùy theo nguyên nhân xuất huyết; phương pháp điều trị ngoại khoa tiếp cận dưới da sửa chữa các mạch máu bất thường, bao gồm dùng ống thông, keo sinh học, bơm bóng chèn hoặc bít tắc, hay phẫu thuật mở sọ nếu khối máu lớn, có nguy cơ chèn ép. Từ đó, các kết quả cũng như di chứng lâu dài trong cuộc sống sau biến cố xuất huyết não ở trẻ sơ sinh sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mức độ nghiêm trọng của khối xuất huyết và quyết định điều trị, theo dõi ngày hôm lại, hành trang một trẻ sơ sinh cần phải vượt qua để cất tiếng khóc chào đời luôn ẩn chứa những rủi ro chấn thương, có thể từ nhẹ đến nặng, tùy thuộc vào loại chấn thương và phần nào của cơ thể bé bị ảnh hưởng. Trong đó, xuất huyết não ở trẻ sơ sinh là một chấn thương khi sinh khá thường gặp vì nhiều lý do. Tuy nhiên, dù cho có là nguyên nhân nào, trẻ cũng luôn cần được điều trị ngay lập tức để đảm bảo kết quả tốt cũng như hạn chế di chứng về sau. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Tại sao con người dễ bị bầm tím? Sự phát triển và đặc điểm hệ thần kinh ở trẻ em Bệnh nhân tiểu đường nên được tiêm các loại vắc xin này hàng năm
Hội chứng suy hô hấp do thiếu chất surfactant trong phổi của trẻ sơ sinh, thông thường ở những trẻ sinh ra 2, có mặt phosphatidyl glycerol, chỉ số ổn định bọt = 47, hoặc tỷ số surfactant/albumin là > 55 mg/g. 1. Srinivasan L, Harris MC, Shah SS Lumbar puncture in the neonate Challenges in decision making and interpretation. J Perinatol 366445–453, 2012. doi Tiên lượng với điều trị là rất tốt; tỉ lệ tử vong là < 10%. Với sự hỗ trợ thông khí đầy đủ, chất surfactant dần dần sẽ bắt đầu được sản xuất và một khi sản xuất bắt đầu, RDS sẽ phục hồi trong vòng 4 hoặc 5 ngày. Tuy nhiên, trong thời gian đó, thiếu O2 máu trầm trọng có thể dẫn đến suy đa tạng và tử vong. Sinh non nhiều hơn có liên quan đến nguy cơ cao mắc bệnh phổi mãn tính, loạn sản phế quản phổi hoặc cả hai. Chất hoạt động bề mặt trong khí quản nếu được chỉ địnhO2 hỗ trợ khi cần thiếtThở máy khi cần BeractantPoractant alfaCalfactantLucinactantBeractant là chiết xuất lipid phổi bò lipid bổ sung protein B và C, colfosceril palmitate, axit palmitic, và tripalmitin; liều 100 mg/kg x mỗi 6h và nếu cần có thể đến 4 liều. Poractant alfa là chiết xuất từ phổi có nguồn gốc từ lợn biến đổi có chứa phospholipid, lipit trung tính, axit béo, và các protein gắn kết surfactant B và C; liều là 200 mg/kg, tiếp theo là 2 liều 100 mg/kg cách 12 giờ nếu cần. Calfactant là một chất chiết xuất từ phổi bê có chứa phospholipid, lipit trung tính, axit béo và các protein gắn kết với surfactant B và C; liều là 105 mg/kg mỗi 12 giờ đến 3 liều nếu cần. Lucinactant là một chất hoạt động bề mặt tổng hợp với chất tương tự protein surfactant Bt rong phổi, các peptide sinapultide KL4, phospholipid và axit béo; liều là 175 mg/kg, mỗi 6 giờ, có thể đến 4 liều. Các chất hoạt động bề mặt có nguồn gốc từ động vật thường được coi là tốt hơn các chất bề mặt tổng đàn hồi của phổi có thể cải thiện nhanh chóng sau khi điều trị. Áp suất đỉnh thì thở vào của máy thở có thể cần được hạ xuống nhanh chóng để giảm rủi ro bị rò khí phổi. Các thông số máy thở khác ví dụ, FIO2, tần số cũng có thể cần phải được giảm. 1. Blennow M, Bohlin K Surfactant and noninvasive ventilation. Neonatology 1074330–336, 2015. doi Aldana-Aguirre JC, Pinto M, Featherstone RM, Kumar M Less invasive surfactant administration versus intubation for surfactant delivery in preterm infants with respiratory distress syndrome A systematic review and meta-analysis. Arch Dis Child Fetal Neonancy Ed 1021F17-F23, 2017. doi Hội chứng suy hô hấp RDS là do thiếu chất surfactant, điển hình chỉ xảy ra ở trẻ sơ sinh < 37 tuần thai; tình trạng thiếu hụt surfactant càng nặng khi mức độ non tháng càng thiếu surfactant, các phế nang bị đóng hoặc không mở được, và phổi bị xẹp lan toả, gây viêm và phù việc gây giảm khả năng hô hấp, RDS làm tăng nguy cơ xuất huyết não thất, tràn khí màng phổi, loạn sản phế quản phổi, nhiễm khuẩn huyết, và tử đoán dựa vào lâm sàng và chụp X-quang ngực; Chẩn đoán loại trừ viêm phổi và nhiễm khuẩn huyết bằng cấy máu và dịch tương dự kiến sinh non, đánh giá sự trưởng thành của phổi bằng cách xét nghiệm nước ối đánh giá tỷ số lecithin/sphingomyelin, độ ổn định của bọt, hoặc tỷ số surfactant/ cấp hỗ trợ hô hấp khi cần thiết và điều trị bằng surfactant trong khí quản nếu trẻ sơ sinh cần đặt nội khí quản ngay lập tức hoặc có tình trạng hô hấp tăng lên khi áp lực dương liên cho mẹ một số liều corticosteroid betamethasone, dexamethasone nếu thời gian cho phép phải sinh trong giai đoạn từ 24 tuần đến 34 tuần; corticoid kích thích sản xuất surfactant bào thai và làm giảm nguy cơ và/hoặc mức độ nghiêm trọng của RDS.
bệnh xuất huyết não ở trẻ sơ sinh