Chưa tròn 20 tuổi, quán quân Bông Lúa Vàng (năm 2019) khá áp lực khi được giao vai độc diễn cải lương đầu đời. Cái khó càng tăng dần khi Ngọc phải diễn cùng lúc bốn nhân vật trong thời lượng khoảng 1,5 giờ đồng hồ. Từ chỗ thịnh hành ở phương Nam, từ những gánh hát nhỏ, nghệ thuật Cải lương đã phát triển ra phía Bắc, hình thành những nhà hát, đoàn cải lương lớn để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng công chúng với nhiều thế hệ nghệ sỹ tài năng. Vở cải lương thầy Ba Đợi Vở cải lương "Tiếng hạc trong trăng" "Nếu anh ra đi để làm một cánh chim phiêu du thân bến trời xa lạ Thì em còn lại đây như một pho tượng đá đứng giữa hoàng cung trống lạnh u buồn"Tình yêu đôi lúc không phải là việc chiếm hữu, mà còn là việc hi sinh. Mất mát thầm yên ổn cả cuộc đời quan tâm, lo lắng, chi ý muốn nhìn fan mình yêu thương hạnh phúc. Đâu đó, chúng ta cũng thấy trong Việt Nam Cộng hòa sự pha trộn, thỏa hiệp cũ - mới của cải lương. Chúng ta thường được nghe rao giảng rằng chỉ có Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới có tính chính danh lịch sử sau Đệ nhị thế chiến, nhưng thực tế thì không hề đơn giản Vở cải lương "Bên ánh sao khuê" cảm tác từ mối tình Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ, nhắc lại vụ án Lệ Chi Viên. Tác phẩm do Hoàng Quỳnh Mai đạo diễn, nghệ sĩ Ngọc Chi chuyển thể cải lương từ kịch bản văn học của Nguyễn Văn Thịnh, công diễn tối 23/5 ở Nhà hát Lớn tK1soW. LỜI MỞ ĐẦU Cải cách hát ca, theo tiến bộ, Lương truyền tuồng tích, sánh văn minh. Cải lương – loại hình nghệ thuật của miền Nam nói riêng và Việt Nam nói chung rất được nhiều người yêu mến trong trăm năm qua. Rất nhiều những thế hệ nghệ nhân, nghệ sỹ đã giữ gìn và phát huy bộ môn nghệ thuật này để làm giàu cho bản sắc văn hóa dân tộc, cũng như thông qua những bài ca vọng cổ, những vở tuồng cải lươngđể giáo dục cho con cháu lịch sử nước nhà, hay đạo đức làm người. Với khoảng một trăm năm hình thành và phát triển thì ở giai đoạn hiện nay, loại hình nghệ thuật văn hóa này của dân tộc đã không còn được ưa chuộng bởi tầng lớp khán giả trẻ như thời kỳ hoàng kim. Vì thế, những người tâm huyết đối với bộ môn nghệ thuật này, họ luôn cố gắng để giữ gìn và bảo tồn nét nghệ thuật truyền thống mà tiền nhân để lại, nhằm lưu giữ một nét đẹp văn hóa của nước nhà. Năm 2018 đánh dấu tròn một trăm năm loại hình nghệ thuật sân khấu cải lương hình thành và phát triển, cũng như với sự yêu mến dành cho bộ môn nghệ thuật của này của nước nhà, để cải lương không chỉ có một lần kỷ niệm trăm năm mà sẽ còn những lần sau nữa. Bài tiểu luận cuối kỳ này xin dành để viết đôi dòng về cải lương với chủ đề “Cải lương – 100 năm hình thành, phát triển và bảo tồn” để sơ lược một nét văn hóa ra đời trên mảnh đất Việt Nam suốt một thế kỷ qua. I/ Sự hình thành cải lương ở đất Nam bộ. Người Việt Nam hẳn ai cũng đều biết Huế là nơi sản sinh ra nghệ thuật Nhã nhạc cung đình để phục vụ cho vua quan triều Nguyễn và người dân đất thành kinh. Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký thỏa ước với thực dân Pháp, nhiều người con xứ Huế đã rời bỏ quê hương để lưu dân vào phương Nam tìm cuộc sống mới, trong đó có cả những nhạc sư cung đình. Ở vùng đất phương Nam này, những con người ấy với nỗi nhớ xóm làng và quê hương là điều không sao tránh khỏi, nên họ dùng những bài bản, lời ca của Nhã nhạc cung đình cất lên cho vơi nỗi nhớ quê hương, cũng như trấn an nỗi sợ thú dữ giữa chốn rừng thiêng nước độc đất nam bộ ở thời kỳ ấy. Dòng nhạc bác học của cung đình, phối hợp với dân ca Nam bộ một cách có hệ thống và thẩm mỹ hình thành nên loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử ở Nam bộ. Đờn ca tài tử - loại hình nghệ thuật được Unesco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại năm 2013 – là loại hình nghệ thuật kết hợp giữa đờn và ca của những con người bình dân, của những nam nữ thanh niên ở miền Tây Nam bộ sau những giờ lao động mệt nhọc. Các bài bản trong đờn ca tài tử được cải biên liên tục từ 72 bài nhạc cổ, và đặc biệt là từ 20 bài nhạc Tổ, gồm 6 bài Bắc diễn tả sự vui tươi, phóng khoáng, 7 bài hạ dùng tế lễ, có tính trang nghiêm, 3 bài Nam diễn tả sự an nhàn, thanh thoát và 4 bài Oán diễn tả sự đau buồn, chia ly. Nhạc cụ là phần không thể thiếu trong đờn ca tài tử. Nhạc cụ được sử dụng bao gồm đàn kìm, đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn cò, đàn tam, sáo, tiêu và song loan song lang. Về sau còn có thêm guitar phím lõm. Những giai điệu của lời ca và tiếng đờn thường được trình diễn trong những lễ hội, đám giỗ, ma chay, cưới xin, khoảng thời gian sau ngày những ngày mùa thu hoạch hay những dịp đặc biệt khác. Bên cạnh đó, nó còn có thể được cất lên dưới những bóng cây, con thuyền hay những đêm trăng sáng...Với đờn ca tài tử, các thầy đờn sẽ được ngồi trên một tấm chiếu hoặc trên một bộ ván gõ, còn người nghệ nhân đờn ca tài tử sẽ ngồi hoặc đứng hát cạnh các thầy đờn. Sau quãng thời gian hình thành loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử, trong một lần biểu diễn ở Mỹ Tho có ông Phó Mười Hai, ông được nghe cô Ba Đắc ca bài Tứ Đại, như bài bài “Bùi Kiệm trêu Nguyệt Nga” với một giọng gần như đối đáp, không có ra bộ. Sau này về Vĩnh Long, ông cho người đứng trên bộ ván ngựa và “ca ra bộ”. Ca ra bộ hình thành khoảng năm 1915 – 1916. Năm 1918, theo dòng chảy lịch sử của thế giới với cách tiếp cận dòng kịch nghệ phương Tây trong lối hát ca ra bộ, ông Năm Tú tên thật là Châu Văn Tú đã sắm thêm cảnh trí, phục trang, và nhờ ông Trương Duy Toản soạn tuồng Pháp Việt nhứt gia tức Gia Long tẩu quốc đánh dấu sự ra đời của loại hình nghệ thuật cải lương ở Việt Nam. Năm 1919, bài hát Dạ cổ hoài lang của nhạc sỹ Cao Văn Lầu ra đời đánh dấu mốc sự kiện quan trọng của lịch sử cải lương. Từ bài ca hai nhịp, sau đó được các thế hệ phát triển lên bốn nhịp, rồi tám nhịp mà thành bài ca vọng cổ 32 nhịp như ngày nay. Vọng cổ được xem là “bài ca vua” trong loại hình nghệ thuật sân khấu cải lương. Ba năm sau đó, tuồng Trang Tử thử vợ và tuồng Kim Vân Kiều diễn tại rạp Mỹ Tho, sau đó được lên trình diễn ở các rạp của Sài Gòn – Gia Định. Khi này, có thể nói, cải lương đã hình thành thật sự. II/ Thời kỳ hoàng kim của nghệ thuật sân khấu cải lương. Từ cái nôi hình thành là ở đất miền Tây nam bộ, các đoàn cải lương bắt đầu việc đi diễn ở các nơi, trong đó phải kể đến một nơi quan trọng là đất Sài Gòn. Sài Gòn ở giai đoạn thập niên 40 – 50 là chốn phồn hoa đô hội, là nơi tập trung bộ máy chính quyền cai trị của Pháp, dân cư tập trung đông đúc, vì thế cải lương – vốn gần gũi với con người miền Nam – dễ dàng được cư dân ở đây yêu thương và đón nhận. Và chính tại vùng đất này là chứng nhân sự phát triển, chứng kiến một giai đoạn huy hoàng của nghệ thuật sân khấu cải lương. Nếu như người Sài Gòn nói riêng và người miền Nam nói chung khó tiếp thu và cảm nhận được cái hay, nét đẹp các loại hình sân khấu ở miền Bắc như tuồng, chèo…thì cải lương được ra đời ở Nam bộ vừa gần gũi, vừa sang trọng đã dễ dàng được ưa chuộng và đón nhận không chỉ ở khắp các tỉnh Nam kỳ mà về sau này còn lan tỏa ra khắp mọi miền của đất nước. Khoảng hai thập kỷ sau khi hình thành, sân khấu cải lương đã có những định hình và phát triển nhất định. Các tuồng tích cải lương bắt đầu được ra đời nhiều hơn, đó có thể là các tuồng cải lương hồ quảng với nguồn gốc lịch sử là ở Trung Hoa Phụng Nghi Đình, hay từ lịch sử Việt Nam Tiếng trống Mê Linh hoặc dựa trên tiểu thuyết Lan và Điệp. Các nghệ sỹ thời kỳ này vừa trình diễn, vừa tìm tòi học hỏi và khổ luyện, tiếp thu những tinh hoa, những cái hay cái đẹp của các bộ môn nghệ thuật khác. Thời kỳ này cũng chứng kiến một thế hệ soạn giả cải lương với kiến thức Tây học và Hán học, cùng với những nền tảng làm nghề đầy tâm huyết xuất hiện như soạn giả Trần Hữu Trang, soạn giả Nguyễn Thành Châu, soạn giả Lê Hoài Nở, soạn giả Huỳnh Thủ Trung. Cùng với lực lượng soạn giả tận tâm với nghề, thế hệ nghệ sỹ cải lương thời kỳ này đón nhận những tên tuổi mà tận ngày nay được xem như là những “Tổ nghề” với sự gọi tên hết lòng trân trọng như Năm Phỉ, Phùng Há, Bảy Nam, Tư Hélène Năm Châu, Tư Thanh Tùng, Sáu Ngọc Sương, Út Trà Ôn, Năm Nghĩa… Với thanh sắc trời phú, cùng với tài nghệ được chui rèn, các vai diễn cùng với những bài ca vọng cổ qua sự trình diễn của các bậc nghệ sỹ tiền bối lão thành đã trở nên bất hủ và kinh điển đối với giới mộ điệu như cố nghệ sỹ nhân dân Phùng Há vai Lữ Bố trong vở cải lương Phụng Nghi Đình, Năm Phỉ với vai Lan trong vở Lan và Điệp, hay cố nghệ sỹ nhân dân Bảy Nam vai người mẹ trong tuồng Lá sầu riêng… Theo các chuyên gia của sân khấu cải lương, thời kỳ hưng thịnh của loại hình nghệ thuật sân khấu này bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷ trước và kéo dài cho đến tận những năm 2000, trong đó, giai đoạn cực thịnh nhất phải nhắc đến đó là nhưng năm 50 – 70 khi mà nhiều vở tuồng cải lương được ra mắt ở trong giai đoạn này đã trở nên kinh điển, cũng như các nghệ sỹ người nào cũng có chất giọng riêng, lối trình diễn khó nhầm lẫn. Về thế hệ nghệ sỹ cải lương, khán giả đón nhận những tên tuổi lớn như Hữu Phước, Thanh Hương, Út Bạch Lan. Theo một bài báo viết về ba nghệ sỹ “họ hô phong hoán vũ chốn kịch trường, dĩa nhựa, đài phát thanh, đến báo chí tốn hao bao nhiêu giấy mực, công chúng bàn tán xôn xao”. Theo sau ba tên tuổi lớn này, một thế hệ khác với cách ca hay, trình diễn tốt mang những nét đặc trưng riêng có của mình phải kể đến như Thanh Nga, Ngọc Giàu, Phượng Liên, Diệu Hiền, Thanh Nguyệt, Hồng Nga, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ, Hùng Minh, Diệp Lang, Phương Quang, Thành Được, Hùng Cường, Thanh Sang, Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương, Đức Lợi, Thanh Điền, Thanh Tuấn, Chí Tâm, Hoài Thanh… Mỗi nghệ sỹ may mắn có một giọng ca trời ban mang nét riêng biệt, cách xử lý nhân vật, bài ca cùng với lối trình diễn tinh tế…đã ghi nên những dấu ấn sâu đậm riêng của mình trong lòng công chúng người hâm mộ. Về những vở cải lương ra đời trong giai đoạn này, tiêu biểu phải kể đến đó là Áo vũ cơ hàn Minh Phụng, Minh Vương, Mỹ Châu, đường gươm Nguyên Bá Minh Vương, Thanh Kim Huệ, Thanh Tuấn, anh hùng xạ điêu Thành Được, Kim Ngọc, Tấn Tài, Ngọc Giàu, áo cưới trước cổng chùa Hữu Phước, Thanh Hương, Bạch Diên Tôn Các Thành Được, Mỹ Châu, Phương Liên, bên cầu dệt lụa Thanh Sang, Thanh Nga, bông hồng cài áo Thành Được, Thanh Nga, bụi mờ ải nhạn Tấn Tài, Út Bạch Lan, Ngọc Giàu, chuyện tình An Lộc Sơn Tấn Tài, Thanh Nga, con gái chị Hằng Út Bạch Lan, Thanh Nga, đêm lạnh chùa hoang Minh Vương, Lệ Thủy, Minh Cảnh, Phượng Liên, đoạn tuyệt Thành Được, Thanh Nga, tiếng trống Mê Linh Thanh Sang, Thanh Nga, đôi mắt người xưa Hữu Phước, Ngọc Giàu, Thanh Nga, gánh cỏ sông Hàn Hoài Thanh, Ngọc Hương, Phượng Liên, giọt máu chung tình Hùng Cường, Bạch Tuyết… Với những vở tuồng cải lương ra đời trong thời kỳ này, khán giả có thể ba trường phái riêng biệt Các vở cải lương mượn điển tích từ nước ngoài Trung Quốc, Mông Cổ, Nhật Bản… đây có thể được xem là sự mới lạ, màu sắc cho những khán giả, những người yêu mến nghệ thuật cải lương. Các vở tuồng lịch sử Việt Nam Thái hậu Dương Vân Nga, tiếng trống Mê Linh… đề cao lòng yêu nước, tinh thần dân tộc Việt Nam bởi vì ngay khi ở thời điểm đó, đất nước còn phải chịu nhiều đau thương về chiến tranh. Các điển tích và vở tuồng xã hội bên cầu dệt lụa, con gái chị Hằng… đề cao đạo đức, chữ nhân lễ nghĩa trí tín ở đời. Cùng với sự diễn xuất tài hoa của các bậc nghệ sỹ, cũng như việc có những kịch bản hay, ca từ trau chuốt, bố cục chặt chẽ, nội dung đậm tính nhân văn…, những vở cải lương ra đời ở thời kỳ này đã trở thành kinh điển, làm giàu cho kho tang nghệ thuật truyền thống cải lương miền Nam, lưu truyền cho đến tận ngày nay. Những năm sau khi giải phóng, thống nhất đất nước, cải lương vẫn giữ vị thế thống trị độc tôn trong các loại hình trình diễn, giải trí cho những người dân Sài thành nói riêng và Nam bộ nói chung. Cuộc sống của những người nghệ sỹ cải lương thật sự giàu có và sung túc. Các sân khấu luôn sáng đèn hằng đêm với những vở diễn cùng với lương khan giả đầy ắp đến xem và ủng hộ. Các nghệ sỹ tài danh thời bấy giờ được hâm mộ cũng vẫn là những tên tuổi được trưởng thành trước năm 1975 như Thanh Nga, Minh Vương, Lệ Thủy, Bạch Tuyết… Các đoàn, gánh hát cải lương ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức cải lương của mọi tầng lớp khán thính gỉả, cũng như đào tạo ra một lớp nghệ sỹ kế thừa bộ ôn nghệ thuật truyền thống này. Những năm cuối thập niên 80 đầu 90, loại hình sân khấu cải lương bắt đầu phải san sẻ lượng khán giả với phim ảnh Hồng Kông, Đài Loan. Tuy nhiên, thế hê nghệ sỹ tài năng kế thừa cũng đủ sức lôi kéo khán gỉa đến xem họ trình diễn. Thế hệ nghệ sỹ tài năng được đào tạo và tỏa sáng trong thời kỳ này có thể kể đến như Vũ Linh, Tài Linh, Phương Hồng Thủy, Ngọc Huyền, Thanh Hằng, Thoại Mỹ…Lớp nghệ sỹ tiếp tuc khẳng định tài năng ca hát và diễn xuất của mình để khẳng định vị trí của họ trong lòng công chúng. Bên cạnh việc trình diễn những vở cải lương trên các sân khấu; ải lương nguyên tuồng, trích đoan cùng những bài ca vọng cổ lẻ cũng được quay hình và phát hành dưới dạng băng từ video, song song với phim bộ Hồng Kông. Nhìn chung, sân khấu cải lương sau này sau năm 1975 vẫn được công chúng ủng hộ và đón nhận, kéo dài mãi đến tận những năm 2000, thời điểm khi các loại hình nghệ thuật trình diễn sân khấu khác được công chúng bắt đầu quan tâm, mà điển hình là tân nhạc và hài kịch. III/ Giai đoạn bảo tồn cho loại hình sân khấu cải lương. Vị thế của cải lương trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây khiến không ít người làm nghề và tâm huyết phải trăn trở. Việc mất dần vị thế vốn xứng đáng được có của cải lương khiến người ta không khỏi xốn xang và tiếc nuối. Đi cùng với thời gian, chứng kiến những lần thay đổi vận mệnh của đất nước và dân tộc, vậy mà giờ đây, trong thời bình với nhịp sống hối hả và hiện đại, vì nhiều lý do cả về chủ quan và khách quan, chúng ta đang dần bỏ lại phía sau một loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc, để chạy theo các loại hình giải trí văn minh và thời thương khác. Dưới góc độ của một người bàng quan, xin được nêu ra vài nguyên nhân đã khiến cải lương không còn nhiều sức hấp dẫn ở thời điểm hiện tại Kịch bản cải lương không còn đặc sắc như những vở tuồng ở thời kỳ hoàng kim. Đã có rất nhiều vở tuồng cải lương ra đời và trở thành kinh điển trong kho tàng nghệ thuật này cũng như trong lòng người hâm mộ thời điểm ấy. Nhưng vài năm trở lại đây, người ta đã không còn thấy một vở tuồng cải lương đặc sắc, hấp dẫn và lôi cuốn có thể ghi dấu ấn đặc biệt trong lòng công chúng. Vẫn có những vở tuồng phản ánh hiện trạng xã hội, đưa vào những triết lý nhân văn, giá trị đạo đức để giáo dục con người, nhưng có lẽ, nhịp điệu và tình tiết chưa bắt kịp nhanh với tốc độ mà người ta mong đợi. các vở tuồng cải lương hồ quảng, cổ trang ra đời nhằm mục đích giới thiệu nét văn hóa, hướng tới việc giáo dục lịch sử cũng không có nhiều. Việc cạnh tranh với các loại hình nghệ thuật sân khấu khác dường như cũng khiến cải lương “đuối sức” trên đường đua. Khán giả tìm đến các sân khấu ca nhạc, rạp phim, sân khấu hài kịch để tìm thư giãn sau những giờ làm việc mết nhọc, hơn là tìm đến cải lương. Điều này có thể lý giải cải lương phần lớn với tình tiết không được vui tươi, mang màu sắc ảm đạm, hoài cổ, y phục cổ trang không thực tế trong giai đoạn hiện nay…đã không thể làm thỏa lòng đại bộ phận tần lớp khán giả hiện nay là lớp trẻ. Thế hệ nghệ sỹ kế thừa chưa đủ sức gánh vác và tạo dấu ấn như những thế hệ nghệ sỹ tiền bối, anh chị của thế hệ trước. Khán giả đã từng chứng kiến những giọng ca, tài năng diễn xuất để đời mang đậm nét riêng như Thanh Nga, Thanh Sang, Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Minh Vương, Mỹ Châu, Tấn Tài…cho đến thế hệ nghệ sỹ tiếp nối như Vũ Linh, Tài Linh, Ngọc Huyền, Kim Tử Long, Thanh Thanh Tâm, Phương Hồng Thủy…Đầu những năm 2000, cùng với việc xuất hiện do hạn chế về tuổi tác của các kép cải lương, cũng như hàng loạt cô đào chánh tên tuổi trụ cột trong lĩnh vực này định cư ở nước ngoài, khán giả đã khó có thể tìm thấy một lớp nghệ sỹ tiếp nối đủ sức kéo dài thời kỳ hoàng kim của cải lương sau thế hệ Thanh Ngân, Thoại Mỹ…Đó không hẳn là lỗi của những nghệ sỹ trẻ. Họ vẫn là những người có tài năng, thanh sắc, nhưng vì nhiều lý do như không có một kịch bản cải lương hay, một vai diễn đặc sắc để thể hiện, tạo bước đột phá trong sự nghiệp của mình để ghi lại dấu ấn trong lòng khán giả. Vậy, giải pháp nào để bảo tồn loại hình cải lương và phát triển bộ môn nghệ thuật của dân tộc này trong tương lai? Câu hỏi này xin được dành lại cho cơ quan chức năng, những người tâm huyết và các bậc nghệ sỹ làm nghề. Còn dưới góc độ của một người khán giả với mong muốn cải lương không bị lãng quên chỉ muốn rằng Cải lương sẽ có những kịch bản hay, những sân khấu hằng đêm sáng đèn, nghệ sỹ có những vai diễn tốt để tạo bước đột phá trong sự nghiệp cũng như để không phụ lòng những người hâm mộ loại hình nghệ thuật truyền thống này. Tầng lớp khán giả đừng quay lưng với loại hình giải trí nhưng mang đậm nét văn hóa riêng này của Việt Nam. Cuộc sống văn minh hối hả ngày nay khiến mọi người tất bật cuốn theo nhịp sống hơi thở hiện đại, thì đôi khi những người trẻ nên sống chậm lại một chút, nghĩ sâu hơn một chút để nhìn lại những giá trị văn hóa mà ông cha ta đã xây dựng và gìn giữ, lắng lòng nghe một câu vọng cổ, thưởng thức một vở tuồng cải lương để cảm nhận những nét đẹp truyền thống của ông cha ta trong ngày tết hoặc một dịp đặc biệt…Đó cũng là một cách để thế hệ trẻ ngày nay bảo tồn loại hình văn hóa nghệ thuật này. LỜI KẾT Cải lương – cái tên của một loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống đậm đà bản sắc Việt của ông cha đã đi qua trăm tuổi. Một thế kỷ tròn, chứng kiến sự hình thành và phát triền của loại hình sân khấu này từ buổi hồng hoang sơ khai, đến thời kỳ phát triển cực thịnh trong hoàn cảnh đất nước còn chịu nhiều đau thương bởi chiến tranh, để khi nhân loại bước vào thế kỷ 21, cải lương đòi hỏi các cấp lãnh đạo, chính quyền những con người tâm huyết với bộ môn nghệ thuật này, các bậc nghệ sỹ, cho đến tầng lớp khán thính giả phải cùng chung tay để giữ gìn và bảo tồn nó. Để cải lương không bị mai một như các loại hình truyền thống văn hóa sân khấu khác ở Việt Nam. Cũng như để khi chúng ta gọi lên hai tiếng “cải lương”, mọi người sẽ nhớ đến ngay một nét đẹp văn hóa được khai sinh, hình thành trên chính mảnh đất hình chữ S mà tự hào và giới thiệu với bạn bè quốc tế năm châu là một di sản của dân tộc ta. Từ thâm tâm, mong Cải lương sẽ sớm bước qua thời kỳ khó khăn hiện tại để cùng phát triển với đất nước và con người Việt, để loại hình sân khấu văn hóa truyền thống này của dân tộc không chỉ có một lần kỷ niệm là trăm năm. Đã từ lâu, loại hình nghệ thuật dân tộc cải lương đã trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống đáng quí của người Nam Bộ nói riêng cũng như người Việt Nam nói chung. Trải qua bao tháng năm, từ giai đoạn hình thành và phát triển, cải lương vẫn mãi mang trong mình sức sống dồi dào, hội tụ đầy đủ nét đẹp văn hóa tinh hoa dân tộc. Hôm nay, xin giới thiệu đến các bạn danh sách 10 vở cải lương cổ xưa hay nhất từ trước đến nay. hi vọng rằng sẽ đem đến cho bạn đọc những thông tin thú vị về 10 vở cải lương này, cũng như để các khán giả mộ điệu nền văn hóa dân tộc cải lương có dịp để ôn lại những khúc ca vang bóng một đang xem Cải lương hay nhất mọi thời đại 12345678910 1 64 1 64 Kiếp nào có yêu nhau "Thà rằng ta chết đi để được nàng khóc tiễn đưa về bên kia thế giới Còn hơn là ta đứng đây mà nhìn người vợ mới chưa bước đến hôn nhân mà đã bạc trong lòng"Có lẽ câu vọng cổ ấy của nghệ sĩ Tấn Tài đã làm nao lòng biết bao người thưởng thức bởi những tâm tư, tình cảm sâu lắng qua từng câu, từng chữ. "Kiếp nào có yêu nhau" là một trong những vở cải lương cổ hay nhất từ trước đến nay, nhận được nhiều sự yêu mến từ khán giả, cũng như khẳng định được giá trị nghệ thuật mà tác phẩm mang lại qua từng lời ca, tiếng hát vượt không gian, thời gian của những người nghệ sĩ tài danh."Kiếp nào có yêu nhau" là một câu chuyện tình buồn giữa Mộ Dung Thạch và tiểu thư Thiên Kim. Cuộc đời trái ngang chia hai lối rẽ, dẫu rằng yêu nhau, nhớ về nhau những họ mãi không đến được với nhau. Âu cũng đành đổ lỗi cho số mệnh. Song song đó, vở cải lương còn để lại dấu ấn cho người xem bởi mối tình si đầy đau khổ của nàng Quế Minh, dẫu thế nào vẫn một lòng sắt son, chung thủy với một người duy qua bao nhiêu năm tháng, vở cải lương "Kiếp nào có yêu nhau" vẫn luôn nhận được sự yêu thích, mến mộ từ khán giả, cũng như có nhiều thế hệ nghệ sĩ trẻ sau này thể hiện lại. Qua đó cho thấy được giá trị to lớn, nhân văn của vở cải lương cũng như từng giọng ca huyền thoại ngày ấy mãi mãi trường tồn theo thời giả Nguyên Thảo, Hạnh sĩ thể hiện Lệ Thủy, Minh Vương, Mỹ Châu,... Nghệ sĩ Lệ Thủy và nghệ sĩ Minh Vương 2 12 2 12 "Phụng ơi nếu con được lớn khôn do hạt lúa dưỡng nuôi của người Mông Cổ Thì xác thân và tim móc được tạo ra là do công lao của cha mẹ sinh thành"Vở cải lương "Người tình trên chiến trận" từ lâu đã trở nên quen thuộc với các khán giả mộ điệu bởi giá trị nhân văn cũng như từng lời ca tiếng hát của những người nghệ sĩ. Không chỉ kể về một câu chuyện tình buồn, trái ngang của hai con người nơi chiến tuyến, mà "Người tình trên chiến trận" còn nói về tình phụ tử, mẫu tử cùng với sự hi sinh tất cả vì con cái của đấng sinh cạnh đó, vở cải lương cổ "Người tình trên chiến trận" cũng là bước đệm đưa tên tuổi của những nghệ sĩ tài danh đến gần với công chúng hơn như nghệ sĩ Lệ Thủy, nghệ sĩ Minh Phụng, nghệ sĩ Diệp Lang,...Vở cải lương này cũng đã được nhiều nghệ sĩ sau này thể hiện lại rất thành công. Chính vì sức ảnh hưởng cũng như giá trị sâu sắc mà vở cải lương mang lại, "Người tình trên chiến trận" quả là xứng đáng khi được xem như một trong những vở cải lương cổ hay nhất mọi thời giả Mộc Linh, Nguyên ThảoNghệ sĩ thể hiện Lệ Thủy, Minh Phụng, Diệp Lan, Út Bạch Lan,... Tuồng cải lương "Người tình trên chiến trận" với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng 3 11 3 11 "Thủy ơi, có lẽ Thượng Đế sanh ta ra và lập cuộc đời ta nhằm một ngôi sao xấu Thế cho nên đời ta cứ mãi lao đao khốn khổ, chỉ xin một lần yêu nhau mà không nói được bao giờ"Được xem như một trong những vở cải lương cổ kinh điển của Việt Nam, "Xin một lần yêu nhau" là những dòng tâm sự buồn của đôi tình nhân Âu Thiên Vũ và Hồ Như Thủy. Lấy đi biết bao nước mắt, sự đồng cảm cũng như sự yêu mến của khán giả, "Xin một lần yêu nhau" đã để lại cho nền cải lương nước nhà một tác phẩm đặc sắc và ý nghĩa vô vọng cổ trên của Âu Thiên Vũ chắc có lẽ nhiều người chúng ta đã từng nghe qua và biết đến. Đó như những lời oán than số phận, tiếc nuối cho mối tình trắc trở, éo le vì định kiến xã hội, vì lòng tham của con người đã chia rẽ đôi tình nhân. Nhưng dẫu rằng kiếp này họ không đến được với nhau, thì cũng nguyện chết vì nhau để giữ lòng sắt son, chung Giả Nguyên ThảoNghệ sĩ thể hiện Lệ Thủy, Minh Phụng, Minh Vương,... Vở cải lương nổi tiếng "Xin một lần yêu nhau" 4 9 "Đây là giấc ngủ thần tiên dìu em về bên kia miền hoa cỏ có trăm dải cô đơn, có giấc ngàn nức nở và có nỗi sầu tư vời vợi nhớ thương về"Thêm một câu chuyện tình buồn thảm lấy đi nước mắt người xem, "Đêm lạnh chùa hoang" là những trái ngang, trắc trở trong chuyện tình của Bảo Xuyên và Lĩnh Sơn. Đứng giữa nhiệm vụ đất nước và tình yêu sắt son của mình, họ nguyện chết vì nhau, hi sinh cả tính mạng để cầu mong cho người mình yêu được trọn vẹn, an yêu đầy xúc động ấy đã khiến cho vở cải lương cổ "Đêm lạnh chùa hoang" trở thành một trong những vở cải lương kinh điển về chuyện tình ngang trái được nhiều khán giả mến mộ. Giữa không gian vắng lặng, cô liêu của ngôi chùa hoang phế, Lĩnh Sơn ôm xác người yêu mình trên tay bước đi trong vô định. Nghĩa vụ đã hoàn thành, nhưng người yêu thì vĩnh viễn không còn có thể bên cạnh...Soạn giả Yên LangNghệ sĩ thể hiện Minh Vương, Minh Cảnh, Lệ Thủy, Phượng Liên,... "Đêm lạnh chùa hoang" với sự tham gia của nhiều danh ca "vàng" nổi tiếng "Nắng chiều đã phai nhòa trên ngàn lá Gió hoàng hôn vừa vội đến chân đồi"Những lời hát trên được trích ra từ vở cải lương nổi tiếng "Tiếng hạc trong trăng" của soạn giả Loan Thảo, Yên Ba. Đây là vở cải lương kể về cuộc đời bất hạnh của cô gái trẻ Xuyên Lan. Xuyên Lan từ bé đã bị mù cả hai mắt, được cưu mang bởi một thầy lang y chuyên bốc thuốc, chữa bệnh cứu người. Mẹ của Xuyên Lan mất khi cô mới chào đời, còn cha của cô thì rong ruổi chốn giang hồ vì món nợ thâm thù chưa trả dứt. Để rồi sau này Xuyên Lan và cha cô gặp lại nhau trong tình cảnh trớ trêu, đầy éo le."Tiếng hạc trong trăng" là những dòng tâm tình cất lên ca ngợi tình phụ tử. Hình ảnh người cha hiến dâng cả đôi mắt của mình để tìm lại ánh sáng cho đứa con gái thân yêu khiến cho người xem không khỏi bàng hoàng, xúc động. Bên cạnh nội dung đầy tính nhân văn ấy, sự diễn xuất cùng với giọng ca quá đỗi ngọt ngào của nữ nghệ sĩ Lệ Thủy và nghệ sĩ Thanh Sang đã đem từng câu, từng chữ của vở cải lương in đậm trong lòng khán giả. Có thể nói, dù cho thời gian có qua đi vội vã và khắc nghiệt đến thế nào thì vở cải lương "Tiếng hạc trong trăng" vẫn mãi còn đó, vẫn mãi là cái tên huyền thoại của những vở cải lương cổ Việt thêm Bí Ẩn Người Ngoài Hành Tinh, Người Ngoài Hành Tinh Nào Đang Đợi Chúng TaSoạn giả Yên Ba, Loan ThảoNghệ sĩ thể hiện Lệ Thủy, Thanh Sang, Hoài Thanh, Bạch Long,... Vở cải lương "Tiếng hạc trong trăng" "Nếu anh ra đi để làm một cánh chim phiêu du giữa bến trời xa lạ Thì em còn lại đây như một pho tượng đá đứng giữa hoàng cung trống lạnh u buồn"Tình yêu đôi khi không phải là sự chiếm hữu, mà còn là sự hi sinh. Hi sinh thầm lặng cả cuộc đời quan tâm, lo lắng, chi mong nhìn người mình yêu hạnh phúc. Cũng như mối tình thủy chung của Áo Vũ Cơ Hàn hay sự si tình của gã cướp biển Thạch Vũ trong vở cải lương "Tâm sự loài chim biển", đều hi sinh vì người mình yêu, dâng hết trọn tình yêu cho một người duy nhất. Chính vì thế đã tạo nên chiều sâu trong mạch cảm xúc của vở cải lương, gây được sự xúc động, thiện cảm từ khán một trong những vở cải lương trước năm 1975, "Tâm sự loài chim biển" được biết đến như một trong những vở cải lương cổ nổi tiếng và hay nhất. Cho đến tận hôm nay, nhắc đến tên của vở cải lương này, những người mộ điệu đều dành riêng tình cảm đặt trọn vào các vai diễn, cũng như những nhân vật trong "Tâm sự loài chim biển". Qua đó đã cho thấy được sự ảnh hưởng cũng như thành công của vở cải lương là rất giả Yên Lang, Nguyên ThảoNghệ sĩ thể hiện Mỹ Châu, Phượng Liên, Minh Phụng, Minh Vương,... Vở cải lương "Tâm sự loài chim biển" nổi tiếng một thời "Bà ơi tôi sẽ ra đi đưa tiễn mùa thu vào giấc mơ buồn bã Rồi một chiều nào có vầng trăng nơi quán lã xin dừng lại phút giây để hoài niệm kẻ đăng trình""Nhân chi sơ, tánh bổn thiện", đó là lời Phật dạy, nói về bản chất của con người. Bản thân ai trong mỗi chúng ta sinh ra đều có thiện căn, như một tờ giấy trắng. Dòng đời xô đẩy, lòng người đa đoan đã khiến cho những hận thù cũng từ đó nảy sinh. Để giữ được chữ "Thiện" đó trong tâm, âu cũng do mỗi người chúng ta biết gạt bỏ hận thù, thanh thản mà sống."Máu nhuộm sân chùa" nói về những ân oán, hận thù trong cuộc đời, để từ đó cái kết như hóa giải ra, khuyên con người nên gạt bỏ đi mà sống. Song song đó, vở cải lương còn nói về chuyện tình cảm động giữa Tự Tâm và Thiên Nga, khiến cho bao người xúc động. Trải qua bao nhiêu năm tháng, vở cải lương cổ "Máu nhuộm sân chùa" vẫn còn để lại dấu ấn trong lòng khán giả bởi chiều sâu trong triết lí nhân sinh mà tác phẩm mang giả Yên LangNghệ sĩ thể hiện Minh Cảnh, Minh Vương, Lệ Thủy, Thanh Kim Huệ,... "Máu nhuộm sân chùa" với sự diễn xuất của kép và đào chính nghệ sĩ Minh Vương và nghệ sĩ Lệ Thủy "Mùa thu trên Bạch Mã Sơn" kể về câu chuyện tình buồn giữa tay kiếm khách Hồ Vũ và cô gái có đôi mắt buồn Phùng Cẩm Loan. Định mệnh khiến họ gặp nhau, trao cho nhau kỉ vật làm kỉ niệm ngàn sau, nhưng lại chia cách nhau xa muôn trùng vạn dặm. Nàng dẫu có vấn vương thế nào, thì cũng sẽ là vợ người ta. Chàng có si tình đến mấy, thì cũng đành ngậm ngùi nhìn chiếc kiệu hoa khuất những thứ in đậm vào tâm hồn con người, chỉ là một ánh mắt, một cái nhìn đầy ẩn ý, vấn vương. Đôi mắt đượm buồn ấy của Phùng Cẩm Loan có lẽ sẽ mãi khắc ghi trong trái tim Hồ Vũ, dẫu rằng bọn ác nhân có khiến nàng mù lòa, dẫu rằng nàng vẫn không thể ở cạnh Hồ Vũ thêm được tất cả tình cảm, tâm tư trĩu nặng qua từng lời ca tiếng hát, "Mùa thu trên Bạch Mã Sơn" đã lấy đi bao nhiêu nước mắt khán giả, cũng như trở thành một trong những bản tình ca bất hủ của cải lương cổ đến mai giả Yên LangNghệ dĩ thể hiện Mỹ Châu, Minh Cảnh, Phượng Liên, Thanh Thanh Hoa,... Tuồng cải lương "Mùa thu trên Bạch Mã Sơn" với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng Chuyện tình đầy ngang trái của An Lộc Sơn và nàng quý phi Thái Chân sẽ được kể lại qua giọng ca đầy tình cảm của các nghệ sĩ trong vở cải lương "Chuyện tình An Lộc Sơn". Tình yêu vốn dĩ không phải chỉ là những tháng ngày hạnh phúc, mộng mơ; sự nhẹ nhàng, êm đềm mà còn là những bão giông, khó nhọc cho những mối tình ngang trái. Vì yêu nên hận, vì yêu nên quyết tâm trả thù, cướp lại bóng hình người mình yêu quí. An Lộc Sơn cũng vì yêu nên mù quáng, cũng vì yêu nên đã dấy binh tạo phản. Để rồi sau tất cả, chỉ còn có thể ôm xác Thái Chân vào lòng trong đau đớn. Có lẽ do định mệnh trái ngang, do sự ngông cuồng, mù cả những cung bậc cảm xúc ấy sẽ được cất lên qua giọng ca của những người nghệ sĩ tài danh trong vở cải lương "Chuyện tình An Lộc Sơn". Chắc chắn rằng, bằng tất cả sự tâm huyết của các nghệ sĩ cũng như nội dung đặc sắc mà vở diễn mang lại, "Chuyện tình An Lộc Sơn" sẽ chiếm được cảm tình của khán giả, cũng như trở thành một trong những vở cải lương cổ hay nhất bởi những giá trị nghệ thuật mà vở diễn đem giả Thế ChâuNghệ sĩ thể hiện Lệ Thủy, Minh Vương, Thanh Sang,... Tuồng cải lương "Chuyện tình An Lộc Sơn" Không những mang nội dung sâu sắc, truyền tải tinh thần yêu nước, bản lĩnh kiên cường của vị Thái hậu nổi tiếng của dân tộc Việt Nam Thái hậu Dương Vân Nga, mà bên cạnh đó, vở cải lương còn làm nên tên tuổi cho nữ nghệ sĩ tài danh Bạch mấy mươi năm qua, những vở cải lương cổ không những đem đến cho người xem những câu chuyện đầy tính nhân văn, mà còn ca ngợi lịch sử, ca ngợi những người có công lao, xây dựng đất nước. Vở diễn "Thái hậu Dương Vân Nga" gây được tiếng vang lớn và được mọi người yêu thích bởi những giá trị nhân văn sâu sắc mà vở diễn chứa đựng. Bên cạnh đó, vai diễn Thái hậu Dương Vân Nga còn được thể hiện bởi diễn xuất cực kì có hồn cùng với sự điêu luyện trong giọng hát của "cải lương chi bảo" Bạch Tuyết cũng góp phần tạo nên thành công cho vở cải lương. Vì lẽ đó, "Thái hậu Dương Vân Nga" xứng đáng được xem là một trong những vở cải lương cổ hay nhất mọi thời đại. Soạn giả Hoa Phượng, Chi Lăng, Hoàng Việt, Thể Hà Vân phỏng theo kịch bản chèo của Trúc ĐườngNghệ sĩ thể hiện NSND Bạch Tuyết,... NSND, Tiến sĩ Bạch Tuyết - đào chính trong tuồng cổ cải lương "Thái hậu Dương Vân Nga" Mỗi vở cải lương cổ mà giới thiệu như trên đều là những vở diễn huyền thoại, làm nên tên tuổi của biết bao thế hệ nghệ sĩ ngày trước, cũng như tạo dấu ấn vàng son cho nền nghệ thuật cải lương nước nhà. Bên cạnh những nghệ sĩ đã thể hiện trọn vẹn các vai diễn, thế hệ nghệ sĩ sau này cũng lần lượt tiếp nối và phát huy nét đẹp ấy, thần thái ấy của các nhân vật trong từng tác phẩm một cách xuất sắc, thành công. Trải qua bao năm tháng, cải lương vẫn còn đó, vẫn mang sức sống mạnh mẽ, kiên cường. Đó là thành quả của biết bao sự cố gắng, những giọt mồ hôi đổ xuống vì nghệ thuật. hi vọng rằng thông qua bài viết này, các bạn có thể hiểu thêm về nền cải lương nước nhà, cũng như thêm yêu mến bộ môn văn hóa nghệ thuật dân tộc này. Văn Lan/Người Việt GARDEN GROVE, California NV – Những trái tim thổn thức, những giọt nước mắt thầm của khán giả khi vở tuồng cải lương tâm lý xã hội “Tấm Lòng Của Biển,” một tuyệt phẩm của soạn giả Hà Triều-Hoa Phượng, trình diễn trên sân khấu đài SBTN, hôm Chủ Nhật, 4 Tháng Sáu. Không chỉ khán giả có mặt tại đài, mà khán giả khắp nơi trên thế giới, trên toàn Hoa Kỳ, và tại địa phương đều theo dõi được qua truyền hình trực tiếp trên băng tần Cô Thanh phải quỳ lạy dì Hai ở vú, xin tha thứ vì không biết bà chính là mẹ ruột. Cảnh lấy nước mắt của khán giả nhiều nhất trong tuồng “Tấm Lòng Của Biển.” Hình Văn Lan/Người Việt Các nghệ sĩ Bảo Quốc vai Ông Đệ, Cẩm Thu Dì Hai ở vú, Tuấn Châu Giáo Oanh, chồng của Dì Hai, Hồng Loan Thanh, con gái Ông Đệ, Chí Sang Tấn, con trai Ông Đệ, Phillip Nam Cử Hưng, chồng sắp cưới của Thanh, Quỳnh Hoa Xuân, người làm nhà Ông Đệ, đã xuất sắc trong từng vai diễn, khiến thính phòng như đang ở trong chuyện đời thường của xã hội Việt Nam vào thập niên 50 của thế kỷ trước. Tất cả câu chuyện diễn ra trong nhà ông Đệ, từ phòng khách tới nhà bếp, và các nghệ sĩ đều thể hiện xuất sắc nội tâm vai diễn của từng nhân vật, qua tình mẹ thiêng liêng cùng những cảm xúc chân thật, những thông điệp sâu sắc nhất, khiến khán giả mủi lòng rơi lệ. Tuồng cải lương “Tấm Lòng Của Biển” dù đã xuất hiện trên sân khấu cải lương miền Nam từ thập niên 60, đến nay đã hơn 60 năm nhưng vẫn còn ăn khách, kể về một bà mẹ nghèo dì Hai ở vú có chồng là giáo Oanh bị tù đày, nhà cửa thiếu thốn không nuôi nổi đứa con gái mới sanh, phải đành lòng làm giấy giao con cho ông bà Đệ, một gia đình thương gia giàu có nuôi dưỡng. Ông Đệ đặt tên con gái là Thanh. Cảnh đấu khẩu căng thẳng giữa Tấn và cử Hưng ngồi bên chị Thanh và dì Hai ở vú. Hình Văn Lan/Người Việt Hơn 20 năm sau, Thanh lớn lên học hành giỏi giang và sắp có chồng là cử Hưng, cũng là một cử nhân, con của một gia đình thương gia giàu có, anh tìm cách cho Thanh biết ông Đệ dự tính tục huyền với dì Hai ở vú. Điều này gây sự bực bội trong lòng, khiến Thanh khinh bạc với bà vú chính là mẹ ruột của mình, nhưng vì vô tình không biết nên cô ra mặt đối xử tàn tệ và đuổi bà ra khỏi nhà. Khi giáo Oanh ra tù, nhiều lần lén lút gặp bà vú để muốn nói cho con biết sự thật, nhưng bà năn nỉ xin ông cho bà giữ im lặng như bao nhiêu năm qua, chỉ vì muốn con được vẹn tròn hạnh phúc khi sắp cưới chồng, và bà bỏ nhà ra đi. Đúng lúc ấy thì Tấn, con trai ruột ông bà Đệ, buồn vì thi rớt nên chán đời sinh ra bê tha, phần vì bị cha la rầy nên bỏ nhà ra đi, nay trở về trao lá thơ của mẹ viết cho anh trước khi bà mất, dặn dò rằng phải sống hòa thuận thương yêu và coi Thanh như chị ruột của mình. Đến lúc đó Thanh mới biết được dì Hai ở vú chính là mẹ ruột của mình, cô vô cùng hối hận, quỳ lạy xin mẹ tha thứ và cho dù bên nhà chồng có từ hôn, cô cũng chấp nhận. Đây là đoạn cao trào nhất của tuồng cải lương “Tấm Lòng Của Biển,” khi tình mẹ con, chồng vợ, cha con, chị em đều thể hiện một cách trọn vẹn. Lúc đó thì cử Hưng cũng cảm động vì tấm lòng của người mẹ hy sinh cả cuộc đời cho con, nên vẫn tiến tới hôn nhân với Thanh. Và ông Đệ ngập tràn hạnh phúc khi Tấn nhào vô ôm cha ruột của mình. Cảnh gia đình quây quần sum họp sau bao năm đau khổ chia ly. Hình Văn Lan/Người Việt Là một nền ca cổ nhạc lâu đời của miền Nam, cải lương đã chiếm trọn cảm tình của khán giả với những vở tuồng đặc sắc trên sân khấu, với tình tiết éo le gay cấn thay đổi theo từng màn diễn khiến khán giả say mê theo dõi, nhất là lời thoại của các nhân vật thật hay và đúng chất giọng, phong cách của người miền Nam. Đặc biệt nhất là lời đối thoại luôn toát ra vẻ lịch sự văn vẻ, tuy sắc sảo nhưng vẫn đậm nét văn chương chứ không “cải lương” hay “sến” như nhiều người gán ghép. Như khi cậu Tấn nói với chị Hai “Chị không biết sự tích con cá bạc má này hả? Tay mang khăn gói theo chồng/ Cá kêu mặc má, theo chồng cứ theo.’ Nó ở bạc với má nó, nên khi chết nó trở thành con cá bạc má. Nhưng mà thôi, cứ quăng bỏ nó đi. Em nghĩ trong nhà này sẽ còn con cá bạc má thứ hai nữa…” để ám chỉ chị của mình ăn ở bạc bẽo với mẹ là dì Hai ở vú, lời nói ẩn dụ trách cứ nhưng không độc địa sâu cay. Hoặc như chị mình sắp đi chơi với cử Hưng ở Cấp Vũng Tàu cậu Tấn lại nói xa nói gần rằng “Nếu sáng nay đi du ngoạn, chắc chị sẽ không tiếc lời ca tụng cảnh biển rộng trời cao. Đối với cảnh vật vô tri thì người ta hay bày tỏ mối cảm tình tha thiết. Nhưng giữa con người thì mọi tình cảm kia nó hời hợt, mong manh…” MC Kim Nhung cho rằng “Người mẹ trong vở tuồng Tấm Lòng Của Biển’ là vai đau khổ nhất vì phải giao con cho người khác nuôi nhưng cũng hạnh phúc nhất khi vẫn được ở bên con, nuôi con bằng bầu sữa của mình và thấy con được sống hạnh phúc trong một gia đình giàu có. Nhưng đau khổ nhất khi con gái không hề biết bà vú chính là mẹ ruột của mình.” Toàn thể các nghệ sĩ trình diễn tuồng cải lương “Tấm Lòng Của Biển” chia tay khán giả. Từ trái, Quỳnh Hoa, Cẩm Thu, Hồng Loan, Phillip Nam, Chí Sang, Tuấn Châu và Bảo Quốc. Hình Văn Lan/Người Việt Nghệ sĩ Tuấn Châu chia sẻ “Tấm Lòng Của Biển’ là vở tuồng tâm huyết nhất của tôi khi theo đoàn Thanh Minh-Thanh Nga trình diễn khắp nơi, khi bác Tám Vân truyền nghề lại cho các anh chị em nghệ sĩ cách nay cũng khoảng 40 năm.” Anh cho hay “Tuồng này có sức thu hút khán giả rất mạnh, và giáo Oanh là một vai diễn rất khó, làm sao lấy được nước mắt của khán giả, khi thể hiện người cha khi ra tù, điều đau khổ nhất là ông muốn trở về với gia đình vợ con mình, nhưng không thể được vì vợ ông vẫn phải chấp nhận chịu đựng làm bà vú, bị con mình ra mặt khinh khi chỉ vì muốn con mình giữ được hạnh phúc khi sắp lấy chồng.” “Xin cám ơn anh Trúc Hồ và đài SBTN đã hết sức gìn giữ và ủng hộ Đoàn Cổ Nhạc Phương Nam, để khán giả được thưởng thức. Mong khán giả thương mến Cổ Nhạc Phương Nam, để bộ môn cổ nhạc không bị mai một, cùng hỗ trợ đài SBTN để có thể ba tháng chúng tôi sẽ có một tuồng và mời bà con tham dự,” nghệ sĩ Tuấn Châu bộc bạch. Trong khi vở tuồng diễn ra trên sân khấu, khán giả từ khắp nơi đã gọi vào đài để ủng hộ, trong đó cô Ánh Anderson ở Seattle, Washington, đã ủng hộ $1,000. Cô là người luôn ủng hộ tinh thần và vật chất để giúp SBTN có những chương trình hay và ý nghĩa cho cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại. Khán giả mộ điệu trong đêm diễn tuồng cải lương “Tấm Lòng Của Biển.” Hình Văn Lan/Người Việt Ông Hai Tỷ, từ El Monte, Los Angeles, lái xe về dự, cho hay “Tình mẹ bao la thương con như biển trời. Ở xã hội nào cũng có những người con hiếu để với cha mẹ, nhưng cũng có những loại người xem nhẹ tình thương với mẹ cha. Qua tuồng này, tôi rất cám ơn các nghệ sĩ đã cống hiến vở tuồng quá hay, đáng để cho lớp trẻ ở đây học hỏi, với điều kiện phải được quảng bá rộng rãi hơn nữa.” Nghệ sĩ Bảo Quốc chia sẻ “Vở tuồng này in dấu ấn rất sâu đậm của Đoàn Thanh Minh-Thanh Nga của gia đình ba má tôi và tất cả anh chị em nghệ sĩ xuất sắc của đoàn. Vở tuồng nói lên tình cảm bao la của người mẹ vì nghèo khổ đành phải bán con của mình, nhưng sau đó xin được ở lại trong gia đình người chủ để có điều kiện chăm sóc con mình, không kể khi bị con khinh khi coi rẻ. Tình mẹ muôn đời vẫn bao la như biển trời, vẫn là đề tài muôn thuở của con người.” Nghệ sĩ Phillip Nam nói “Vở tuồng này có thể được giới thiệu đến giới trẻ gốc Việt nếu biết nói tiếng Việt và được trau dồi nền tảng văn hóa truyền thống Việt Nam, sẽ hiểu và thông cảm chấp nhận vì ngoài đời cũng có những trường hợp giống như vậy.” Cô Jacqueline Mai thứ tư từ trái cùng gia đình dự đêm diễn tuồng cải lương “Tấm Lòng Của Biển.” Qua tuồng này, cô tâm sự “Hãy biết yêu thương kính trọng cha mẹ và anh chị em trong nhà.” Hình Văn Lan/Người Việt Cô Jacqueline Mai, cư dân Fountain Valley, xúc động nói “Tình mẹ bao la luôn hy sinh vì con, thật tuyệt vời. Em cũng thích nhất vai của người cha ông Đệ khi thương Thanh như con ruột của mình. Cảm động nhất khi Tấn, con ruột của ông Đệ nhào vô ôm cha, đó là tình thương mà người cha muốn có từ lâu rồi nhưng không để lộ ra. Khúc cuối thật tuyệt vời, em tuy lớn lên ở Mỹ, nhưng cũng có sự thân thiết với gia đình nên rất hiểu về văn hóa Việt Nam, mình phải biết thương yêu kính trọng cha mẹ và anh chị em trong nhà. Đó là điều không bao giờ quên, người Mỹ cũng có văn hóa giống như vậy.” “Tấm Lòng Của Biển” là một trong những tuồng cải lương tâm lý xã hội kinh điển, thu hút khán giả của sân khấu Thanh Minh-Thanh Nga trước đây, và cũng từng lưu diễn tại Pháp trước 1975, chiếm được cảm tình nồng nhiệt của đồng hương hải ngoại, đến nay vẫn còn trong lòng khán giả mộ điệu. Tình mẹ bao la như biển trời, một đề tài muôn thuở của nhân loại, cùng tiếng đàn của ba nhạc sĩ Hoàng Phúc guitar phím lõm, Hoàng Nam đàn sến, và Hoàng Khang keyboard đã góp phần làm nên buổi diễn thật tuyệt vời tại Little Saigon. [qd] Đã từ lâu, loại hình nghệ thuật dân tộc cải lương đã trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống đáng quí của người Nam Bộ nói riêng cũng như người Việt Nam nói chung. Trải qua bao tháng năm, từ giai đoạn hình thành và phát triển, cải lương vẫn mãi mang trong mình sức sống dồi dào, hội tụ đầy đủ nét đẹp văn hóa tinh hoa dân tộc. Hôm nay, xin giới thiệu đến các bạn danh sách 10 vở cải lương cổ xưa hay nhất từ trước đến nay. hi vọng rằng sẽ đem đến cho bạn đọc những thông tin thú vị về 10 vở cải lương này, cũng như để các khán giả mộ điệu nền văn hóa dân tộc cải lương có dịp để ôn lại những khúc ca vang bóng một lục bài viết1 Tiếng hạc trong trăng2 Tâm sự loài chim biển3 Người tình trên chiến trận4 Mùa thu trên Bạch Mã Sơn5 Máu nhuộm sân chùa6 Kiếp nào có yêu nhau7 Chuyện tình An Lộc SơnTiếng hạc trong trăng “Nắng chiều đã phai nhòa trên ngàn lá Gió hoàng hôn vừa vội đến chân đồi”Những lời hát trên được trích ra từ vở cải lương nổi tiếng “Tiếng hạc trong trăng” của soạn giả Loan Thảo, Yên Ba. Đây là vở cải lương kể về cuộc đời bất hạnh của cô gái trẻ Xuyên Lan. Xuyên Lan từ bé đã bị mù cả hai mắt, được cưu mang bởi một thầy lang y chuyên bốc thuốc, chữa bệnh cứu người. Mẹ của Xuyên Lan mất khi cô mới chào đời, còn cha của cô thì rong ruổi chốn giang hồ vì món nợ thâm thù chưa trả dứt. Để rồi sau này Xuyên Lan và cha cô gặp lại nhau trong tình cảnh trớ trêu, đầy éo le.“Tiếng hạc trong trăng” là những dòng tâm tình cất lên ca ngợi tình phụ tử. Hình ảnh người cha hiến dâng cả đôi mắt của mình để tìm lại ánh sáng cho đứa con gái thân yêu khiến cho người xem không khỏi bàng hoàng, xúc động. Bên cạnh nội dung đầy tính nhân văn ấy, sự diễn xuất cùng với giọng ca quá đỗi ngọt ngào của nữ nghệ sĩ Lệ Thủy và nghệ sĩ Thanh Sang đã đem từng câu, từng chữ của vở cải lương in đậm trong lòng khán giả. Có thể nói, dù cho thời gian có qua đi vội vã và khắc nghiệt đến thế nào thì vở cải lương “Tiếng hạc trong trăng” vẫn mãi còn đó, vẫn mãi là cái tên huyền thoại của những vở cải lương cổ Việt giả Yên Ba, Loan ThảoNghệ sĩ thể hiện Lệ Thủy, Thanh Sang, Hoài Thanh, Bạch Long,…Tâm sự loài chim biển “Nếu anh ra đi để làm một cánh chim phiêu du giữa bến trời xa lạ Thì em còn lại đây như một bức tượng đá đứng giữa hoàng cung trống lạnh u buồn”Tình yêu đôi khi không phải là sự chiếm hữu, mà còn là sự hi sinh. Hi sinh thầm lặng cả cuộc đời quan tâm, lo lắng, chi mong nhìn người mình yêu hạnh phúc. Cũng như mối tình thủy chung của Áo Vũ Cơ Hàn hay sự si tình của gã cướp biển Thạch Vũ trong vở cải lương “Tâm sự loài chim biển”, đều hi sinh vì người mình yêu, dâng hết trọn tình yêu cho một người duy nhất. Chính vì thế đã tạo nên chiều sâu trong mạch cảm xúc của vở cải lương, gây được sự xúc động, thiện cảm từ khán 1 trong những những vở cải lương trước năm 1975, “Tâm sự loài chim biển” được biết đến như 1 trong những những vở cải lương cổ nổi tiếng và hay nhất. Cho đến tận hôm nay, nhắc đến tên của vở cải lương này, những người mộ điệu đều dành riêng tình cảm đặt trọn vào các vai diễn, cũng như những nhân vật trong “Tâm sự loài chim biển”. Qua đó đã cho thấy được sự ảnh hưởng cũng như thành công của vở cải lương là rất giả Yên Lang, Nguyên ThảoNghệ sĩ thể hiện Mỹ Châu, Phượng Liên, Minh Phụng, Minh Vương,…Người tình trên chiến trận “Phụng ơi nếu con được lớn khôn do hạt lúa dưỡng nuôi của người Mông Cổ Thì xác thân và tim móc được tạo ra là do công lao của cha mẹ sinh thành”Vở cải lương “Người tình trên chiến trận” từ lâu đã trở nên quen thuộc với các khán giả mộ điệu bởi giá trị nhân văn cũng như từng lời ca tiếng hát của những người nghệ sĩ. Không chỉ kể về một câu chuyện tình buồn, trái ngang của hai con người nơi chiến tuyến, mà “Người tình trên chiến trận” còn nói về tình phụ tử, mẫu tử cùng với sự hi sinh tất cả vì con cái của đấng sinh cạnh đó, vở cải lương cổ “Người tình trên chiến trận” cũng là bước đệm đưa tên tuổi của những nghệ sĩ tài danh đến gần với công chúng hơn như nghệ sĩ Lệ Thủy, nghệ sĩ Minh Phụng, nghệ sĩ Diệp Lang,…Vở cải lương này cũng đã được nhiều nghệ sĩ sau này thể hiện lại rất thành công. Chính vì sức ảnh hưởng cũng như giá trị sâu sắc mà vở cải lương mang lại, “Người tình trên chiến trận” quả là xứng đáng khi được xem như 1 trong những những vở cải lương cổ hay nhất mọi thời giả Mộc Linh, Nguyên ThảoNghệ sĩ thể hiện Lệ Thủy, Minh Phụng, Diệp Lan, Út Bạch Lan,…Mùa thu trên Bạch Mã Sơn“Mùa thu trên Bạch Mã Sơn” kể về câu chuyện tình ai oán giữa tay kiếm khách Hồ Vũ và cô gái có đôi mắt ai oán Phùng Cẩm Loan. Định mệnh khiến họ gặp nhau, trao cho nhau kỉ vật làm kỉ niệm ngàn sau, nhưng lại chia cách nhau xa muôn trùng vạn dặm. Nàng dẫu có vấn vương thế nào, thì cũng sẽ là vợ người ta. Chàng có si tình đến mấy, thì cũng đành ngậm ngùi nhìn chiếc kiệu hoa khuất những thứ in đậm vào tâm hồn con người, chỉ là một ánh mắt, một cái nhìn đầy ẩn ý, vấn vương. Đôi mắt đượm ai oán ấy của Phùng Cẩm Loan có lẽ sẽ mãi khắc ghi trong trái tim Hồ Vũ, dẫu rằng bọn độc ác nhân có khiến nàng mù lòa, dẫu rằng nàng vẫn không thể ở cạnh Hồ Vũ thêm được tất cả tình cảm, tâm tư trĩu nặng qua từng lời ca tiếng hát, “Mùa thu trên Bạch Mã Sơn” đã lấy đi bao nhiêu nước mắt khán giả, cũng như trở thành 1 trong những những bản tình ca bất hủ của cải lương cổ đến mai giả Yên LangNghệ dĩ thể hiện Mỹ Châu, Minh Cảnh, Phượng Liên, Thanh Thanh Hoa,…Máu nhuộm sân chùa “Bà ơi tôi sẽ ra đi đưa tiễn mùa thu vào giấc mơ ai oán bã Rồi 1 chiều nào có vầng trăng nơi quán lã xin dừng lại phút giây để hoài niệm kẻ đăng trình”“Nhân chi sơ, tánh bổn thiện”, đó là lời Phật dạy, nói về bản chất của con người. Bản thân ai trong mỗi chúng ta sinh ra đều có thiện căn, như một tờ giấy trắng. Dòng đời xô đẩy, lòng người đa đoan đã khiến cho những hận thù cũng từ đó nảy sinh. Để giữ được chữ “Thiện” đó trong tâm, âu cũng do mỗi người chúng ta biết gạt bỏ hận thù, thanh thản mà sống.“Máu nhuộm sân chùa” nói về những ân oán, hận thù trong cuộc đời, để từ đó cái kết như hóa giải ra, khuyên con người nên gạt bỏ đi mà sống. Song song đó, vở cải lương còn nói về chuyện tình cảm động giữa Tự Tâm và Thiên Nga, khiến cho bao người xúc động. Trải qua bao nhiêu năm tháng, vở cải lương cổ “Máu nhuộm sân chùa” vẫn còn để lại dấu ấn trong lòng khán giả bởi chiều sâu trong triết lí nhân sinh mà tác phẩm mang giả Yên LangNghệ sĩ thể hiện Minh Cảnh, Minh Vương, Lệ Thủy, Thanh Kim Huệ,…Kiếp nào có yêu nhau “Thà rằng ta chết đi để được nàng khóc tiễn đưa về bên kia thế giới Còn hơn là ta đứng đây mà nhìn người vợ mới chưa bước đến hôn nhân mà đã bạc trong lòng”Có lẽ câu vọng cổ ấy của nghệ sĩ Tấn Tài đã làm nao lòng biết bao người thưởng thức bởi những tâm tư, tình cảm sâu lắng qua từng câu, từng chữ. “Kiếp nào có yêu nhau” là 1 trong những những vở cải lương cổ hay nhất từ trước đến nay, nhận được nhiều sự hâm mộ từ khán giả, cũng như khẳng định được giá trị nghệ thuật mà tác phẩm mang lại qua từng lời ca, tiếng hát vượt không gian, thời gian của những người nghệ sĩ tài danh.“Kiếp nào có yêu nhau” là một câu chuyện tình ai oán giữa Mộ Dung Thạch và tiểu thư Thiên Kim. Cuộc đời trái ngang chia hai lối rẽ, dẫu rằng yêu nhau, nhớ về nhau những họ mãi không đến được với nhau. Âu cũng đành đổ lỗi cho số mệnh. Song song đó, vở cải lương còn để lại dấu ấn cho người xem bởi mối tình si đầy đau khổ của nàng Quế Minh, dẫu thế nào vẫn một lòng sắt son, chung thủy với một người duy qua bao nhiêu năm tháng, vở cải lương “Kiếp nào có yêu nhau” vẫn luôn nhận được sự yêu thích, hâm mộ từ khán giả, cũng như có nhiều thế hệ nghệ sĩ trẻ sau này thể hiện lại. Qua đó cho thấy được giá trị to lớn, nhân văn của vở cải lương cũng như từng giọng ca huyền thoại ngày ấy mãi mãi trường tồn theo thời giả Nguyên Thảo, Hạnh sĩ thể hiện Lệ Thủy, Minh Vương, Mỹ Châu,…Chuyện tình An Lộc SơnChuyện tình đầy ngang trái của An Lộc Sơn và nàng quý phi Thái Chân sẽ được kể lại qua giọng ca đầy tình cảm của các nghệ sĩ trong vở cải lương “Chuyện tình An Lộc Sơn”. Tình yêu vốn dĩ không phải chỉ là những tháng ngày hạnh phúc, mộng mơ; sự nhẹ nhàng, êm đềm mà còn là những bão giông, khó nhọc cho những mối tình ngang trái. Vì yêu nên hận, vì yêu nên quyết tâm trả thù, cướp lại bóng hình người mình yêu quí. An Lộc Sơn cũng vì yêu nên mù quáng, cũng vì yêu nên đã dấy binh tạo phản. Để rồi sau tất cả, chỉ còn có thể ôm xác Thái Chân vào lòng trong đau đớn. Có lẽ do định mệnh trái ngang, do sự ngông cuồng, mù cả những cung bậc cảm xúc ấy sẽ được cất lên qua giọng ca của những người nghệ sĩ tài danh trong vở cải lương “Chuyện tình An Lộc Sơn”. Chắc chắn rằng, bằng tất cả sự tâm huyết của các nghệ sĩ cũng như nội dung đặc sắc mà vở diễn mang lại, “Chuyện tình An Lộc Sơn” sẽ chiếm được cảm tình của khán giả, cũng như trở thành 1 trong những những vở cải lương cổ hay nhất bởi những giá trị nghệ thuật mà vở diễn đem giả Thế ChâuNghệ sĩ thể hiện Lệ Thủy, Minh Vương, Thanh Sang,…Có thể bạn thích Mã giảm giá Shopee Mới Nhất Đã từ lâu, loại hình nghệ thuật dân tộc cải lương đã trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống đáng quí của người Nam Bộ nói riêng cũng như người Việt Nam nói chung. Trải qua bao tháng năm, từ giai đoạn hình thành và phát triển, cải lương vẫn mãi mang trong mình sức sống dồi dào, hội tụ đầy đủ nét đẹp văn hóa tinh hoa dân tộc. Hôm nay, chúng mình xin giới thiệu đến các bạn danh sách 10 vở cải lương cổ xưa hay nhất từ trước đến nay. chúng mình hi vọng rằng sẽ đem đến cho bạn đọc những thông tin thú vị về 10 vở cải lương này, cũng như để các khán giả mộ điệu nền văn hóa dân tộc cải lương có dịp để ôn lại những khúc ca vang bóng một thời. Thái hậu Dương Vân Nga Chuyện tình An Lộc Sơn Mùa thu trên Bạch Mã Sơn Máu nhuộm sân chùa Tâm sự loài chim biển Tiếng hạc trong trăng Đêm lạnh chùa hoang Xin một lần yêu nhau Người tình trên chiến trận Kiếp nào có yêu nhau Không những mang nội dung sâu sắc, truyền tải tinh thần yêu nước, bản lĩnh kiên cường của vị Thái hậu nổi tiếng của dân tộc Việt Nam Thái hậu Dương Vân Nga, mà bên cạnh đó, vở cải lương còn làm nên tên tuổi cho nữ nghệ sĩ tài danh Bạch mấy mươi năm qua, những vở cải lương cổ không những đem đến cho người xem những câu chuyện đầy tính nhân văn, mà còn ca ngợi lịch sử, ca ngợi những người có công lao, xây dựng đất nước. Vở diễn “Thái hậu Dương Vân Nga” gây được tiếng vang lớn và được mọi người yêu thích bởi những giá trị nhân văn sâu sắc mà vở diễn chứa đựng. Bên cạnh đó, vai diễn Thái hậu Dương Vân Nga còn được thể hiện bởi diễn xuất cực kì có hồn cùng với sự điêu luyện trong giọng hát của “cải lương chi bảo” Bạch Tuyết cũng góp phần tạo nên thành công cho vở cải lương. Vì lẽ đó, “Thái hậu Dương Vân Nga” xứng đáng được xem là một trong những vở cải lương cổ hay nhất mọi thời đại. Soạn giả Hoa Phượng, Chi Lăng, Hoàng Việt, Thể Hà Vân phỏng theo kịch bản chèo của Trúc ĐườngNghệ sĩ thể hiện NSND Bạch Tuyết,… Thái hậu Dương Vân Nga Chuyện tình đầy ngang trái của An Lộc Sơn và nàng quý phi Thái Chân sẽ được kể lại qua giọng ca đầy tình cảm của các nghệ sĩ trong vở cải lương “Chuyện tình An Lộc Sơn”. Tình yêu vốn dĩ không phải chỉ là những tháng ngày hạnh phúc, mộng mơ; sự nhẹ nhàng, êm đềm mà còn là những bão giông, khó nhọc cho những mối tình ngang trái. Vì yêu nên hận, vì yêu nên quyết tâm trả thù, cướp lại bóng hình người mình yêu quí. An Lộc Sơn cũng vì yêu nên mù quáng, cũng vì yêu nên đã dấy binh tạo phản. Để rồi sau tất cả, chỉ còn có thể ôm xác Thái Chân vào lòng trong đau đớn. Có lẽ do định mệnh trái ngang, do sự ngông cuồng, mù cả những cung bậc cảm xúc ấy sẽ được cất lên qua giọng ca của những người nghệ sĩ tài danh trong vở cải lương “Chuyện tình An Lộc Sơn”. Chắc chắn rằng, bằng tất cả sự tâm huyết của các nghệ sĩ cũng như nội dung đặc sắc mà vở diễn mang lại, “Chuyện tình An Lộc Sơn” sẽ chiếm được cảm tình của khán giả, cũng như trở thành một trong những vở cải lương cổ hay nhất bởi những giá trị nghệ thuật mà vở diễn đem giả Thế ChâuNghệ sĩ thể hiện Lệ Thủy, Minh Vương, Thanh Sang,… Chuyện tình An Lộc Sơn “Mùa thu trên Bạch Mã Sơn” kể về câu chuyện tình buồn giữa tay kiếm khách Hồ Vũ và cô gái có đôi mắt buồn Phùng Cẩm Loan. Định mệnh khiến họ gặp nhau, trao cho nhau kỉ vật làm kỉ niệm ngàn sau, nhưng lại chia cách nhau xa muôn trùng vạn dặm. Nàng dẫu có vấn vương thế nào, thì cũng sẽ là vợ người ta. Chàng có si tình đến mấy, thì cũng đành ngậm ngùi nhìn chiếc kiệu hoa khuất những thứ in đậm vào tâm hồn con người, chỉ là một ánh mắt, một cái nhìn đầy ẩn ý, vấn vương. Đôi mắt đượm buồn ấy của Phùng Cẩm Loan có lẽ sẽ mãi khắc ghi trong trái tim Hồ Vũ, dẫu rằng bọn ác nhân có khiến nàng mù lòa, dẫu rằng nàng vẫn không thể ở cạnh Hồ Vũ thêm được tất cả tình cảm, tâm tư trĩu nặng qua từng lời ca tiếng hát, “Mùa thu trên Bạch Mã Sơn” đã lấy đi bao nhiêu nước mắt khán giả, cũng như trở thành một trong những bản tình ca bất hủ của cải lương cổ đến mai giả Yên LangNghệ dĩ thể hiện Mỹ Châu, Minh Cảnh, Phượng Liên, Thanh Thanh Hoa,… Mùa thu trên Bạch Mã Sơn “Bà ơi tôi sẽ ra đi đưa tiễn mùa thu vào giấc mơ buồn bã Rồi một chiều nào có vầng trăng nơi quán lã xin dừng lại phút giây để hoài niệm kẻ đăng trình””Nhân chi sơ, tánh bổn thiện”, đó là lời Phật dạy, nói về bản chất của con người. Bản thân ai trong mỗi chúng ta sinh ra đều có thiện căn, như một tờ giấy trắng. Dòng đời xô đẩy, lòng người đa đoan đã khiến cho những hận thù cũng từ đó nảy sinh. Để giữ được chữ “Thiện” đó trong tâm, âu cũng do mỗi người chúng ta biết gạt bỏ hận thù, thanh thản mà sống.”Máu nhuộm sân chùa” nói về những ân oán, hận thù trong cuộc đời, để từ đó cái kết như hóa giải ra, khuyên con người nên gạt bỏ đi mà sống. Song song đó, vở cải lương còn nói về chuyện tình cảm động giữa Tự Tâm và Thiên Nga, khiến cho bao người xúc động. Trải qua bao nhiêu năm tháng, vở cải lương cổ “Máu nhuộm sân chùa” vẫn còn để lại dấu ấn trong lòng khán giả bởi chiều sâu trong triết lí nhân sinh mà tác phẩm mang giả Yên LangNghệ sĩ thể hiện Minh Cảnh, Minh Vương, Lệ Thủy, Thanh Kim Huệ,… Máu nhuộm sân chùa “Nếu anh ra đi để làm một cánh chim phiêu du giữa bến trời xa lạ Thì em còn lại đây như một pho tượng đá đứng giữa hoàng cung trống lạnh u buồn”Tình yêu đôi khi không phải là sự chiếm hữu, mà còn là sự hi sinh. Hi sinh thầm lặng cả cuộc đời quan tâm, lo lắng, chi mong nhìn người mình yêu hạnh phúc. Cũng như mối tình thủy chung của Áo Vũ Cơ Hàn hay sự si tình của gã cướp biển Thạch Vũ trong vở cải lương “Tâm sự loài chim biển”, đều hi sinh vì người mình yêu, dâng hết trọn tình yêu cho một người duy nhất. Chính vì thế đã tạo nên chiều sâu trong mạch cảm xúc của vở cải lương, gây được sự xúc động, thiện cảm từ khán một trong những vở cải lương trước năm 1975, “Tâm sự loài chim biển” được biết đến như một trong những vở cải lương cổ nổi tiếng và hay nhất. Cho đến tận hôm nay, nhắc đến tên của vở cải lương này, những người mộ điệu đều dành riêng tình cảm đặt trọn vào các vai diễn, cũng như những nhân vật trong “Tâm sự loài chim biển”. Qua đó đã cho thấy được sự ảnh hưởng cũng như thành công của vở cải lương là rất giả Yên Lang, Nguyên ThảoNghệ sĩ thể hiện Mỹ Châu, Phượng Liên, Minh Phụng, Minh Vương,… Tâm sự loài chim biển “Nắng chiều đã phai nhòa trên ngàn lá Gió hoàng hôn vừa vội đến chân đồi”Những lời hát trên được trích ra từ vở cải lương nổi tiếng “Tiếng hạc trong trăng” của soạn giả Loan Thảo, Yên Ba. Đây là vở cải lương kể về cuộc đời bất hạnh của cô gái trẻ Xuyên Lan. Xuyên Lan từ bé đã bị mù cả hai mắt, được cưu mang bởi một thầy lang y chuyên bốc thuốc, chữa bệnh cứu người. Mẹ của Xuyên Lan mất khi cô mới chào đời, còn cha của cô thì rong ruổi chốn giang hồ vì món nợ thâm thù chưa trả dứt. Để rồi sau này Xuyên Lan và cha cô gặp lại nhau trong tình cảnh trớ trêu, đầy éo le.”Tiếng hạc trong trăng” là những dòng tâm tình cất lên ca ngợi tình phụ tử. Hình ảnh người cha hiến dâng cả đôi mắt của mình để tìm lại ánh sáng cho đứa con gái thân yêu khiến cho người xem không khỏi bàng hoàng, xúc động. Bên cạnh nội dung đầy tính nhân văn ấy, sự diễn xuất cùng với giọng ca quá đỗi ngọt ngào của nữ nghệ sĩ Lệ Thủy và nghệ sĩ Thanh Sang đã đem từng câu, từng chữ của vở cải lương in đậm trong lòng khán giả. Có thể nói, dù cho thời gian có qua đi vội vã và khắc nghiệt đến thế nào thì vở cải lương “Tiếng hạc trong trăng” vẫn mãi còn đó, vẫn mãi là cái tên huyền thoại của những vở cải lương cổ Việt giả Yên Ba, Loan ThảoNghệ sĩ thể hiện Lệ Thủy, Thanh Sang, Hoài Thanh, Bạch Long,… Tiếng hạc trong trăng “Đây là giấc ngủ thần tiên dìu em về bên kia miền hoa cỏ có trăm dải cô đơn, có giấc ngàn nức nở và có nỗi sầu tư vời vợi nhớ thương về”Thêm một câu chuyện tình buồn thảm lấy đi nước mắt người xem, “Đêm lạnh chùa hoang” là những trái ngang, trắc trở trong chuyện tình của Bảo Xuyên và Lĩnh Sơn. Đứng giữa nhiệm vụ đất nước và tình yêu sắt son của mình, họ nguyện chết vì nhau, hi sinh cả tính mạng để cầu mong cho người mình yêu được trọn vẹn, an yêu đầy xúc động ấy đã khiến cho vở cải lương cổ “Đêm lạnh chùa hoang” trở thành một trong những vở cải lương kinh điển về chuyện tình ngang trái được nhiều khán giả mến mộ. Giữa không gian vắng lặng, cô liêu của ngôi chùa hoang phế, Lĩnh Sơn ôm xác người yêu mình trên tay bước đi trong vô định. Nghĩa vụ đã hoàn thành, nhưng người yêu thì vĩnh viễn không còn có thể bên cạnh…Soạn giả Yên LangNghệ sĩ thể hiện Minh Vương, Minh Cảnh, Lệ Thủy, Phượng Liên,… Đêm lạnh chùa hoang “Thủy ơi, có lẽ Thượng Đế sanh ta ra và lập cuộc đời ta nhằm một ngôi sao xấu Thế cho nên đời ta cứ mãi lao đao khốn khổ, chỉ xin một lần yêu nhau mà không nói được bao giờ”Được xem như một trong những vở cải lương cổ kinh điển của Việt Nam, “Xin một lần yêu nhau” là những dòng tâm sự buồn của đôi tình nhân Âu Thiên Vũ và Hồ Như Thủy. Lấy đi biết bao nước mắt, sự đồng cảm cũng như sự yêu mến của khán giả, “Xin một lần yêu nhau” đã để lại cho nền cải lương nước nhà một tác phẩm đặc sắc và ý nghĩa vô vọng cổ trên của Âu Thiên Vũ chắc có lẽ nhiều người chúng ta đã từng nghe qua và biết đến. Đó như những lời oán than số phận, tiếc nuối cho mối tình trắc trở, éo le vì định kiến xã hội, vì lòng tham của con người đã chia rẽ đôi tình nhân. Nhưng dẫu rằng kiếp này họ không đến được với nhau, thì cũng nguyện chết vì nhau để giữ lòng sắt son, chung Giả Nguyên ThảoNghệ sĩ thể hiện Lệ Thủy, Minh Phụng, Minh Vương,… Xin một lần yêu nhau “Phụng ơi nếu con được lớn khôn do hạt lúa dưỡng nuôi của người Mông Cổ Thì xác thân và tim móc được tạo ra là do công lao của cha mẹ sinh thành”Vở cải lương “Người tình trên chiến trận” từ lâu đã trở nên quen thuộc với các khán giả mộ điệu bởi giá trị nhân văn cũng như từng lời ca tiếng hát của những người nghệ sĩ. Không chỉ kể về một câu chuyện tình buồn, trái ngang của hai con người nơi chiến tuyến, mà “Người tình trên chiến trận” còn nói về tình phụ tử, mẫu tử cùng với sự hi sinh tất cả vì con cái của đấng sinh cạnh đó, vở cải lương cổ “Người tình trên chiến trận” cũng là bước đệm đưa tên tuổi của những nghệ sĩ tài danh đến gần với công chúng hơn như nghệ sĩ Lệ Thủy, nghệ sĩ Minh Phụng, nghệ sĩ Diệp Lang,…Vở cải lương này cũng đã được nhiều nghệ sĩ sau này thể hiện lại rất thành công. Chính vì sức ảnh hưởng cũng như giá trị sâu sắc mà vở cải lương mang lại, “Người tình trên chiến trận” quả là xứng đáng khi được xem như một trong những vở cải lương cổ hay nhất mọi thời giả Mộc Linh, Nguyên ThảoNghệ sĩ thể hiện Lệ Thủy, Minh Phụng, Diệp Lan, Út Bạch Lan,… Người tình trên chiến trận “Thà rằng ta chết đi để được nàng khóc tiễn đưa về bên kia thế giới Còn hơn là ta đứng đây mà nhìn người vợ mới chưa bước đến hôn nhân mà đã bạc trong lòng”Có lẽ câu vọng cổ ấy của nghệ sĩ Tấn Tài đã làm nao lòng biết bao người thưởng thức bởi những tâm tư, tình cảm sâu lắng qua từng câu, từng chữ. “Kiếp nào có yêu nhau” là một trong những vở cải lương cổ hay nhất từ trước đến nay, nhận được nhiều sự yêu mến từ khán giả, cũng như khẳng định được giá trị nghệ thuật mà tác phẩm mang lại qua từng lời ca, tiếng hát vượt không gian, thời gian của những người nghệ sĩ tài danh.”Kiếp nào có yêu nhau” là một câu chuyện tình buồn giữa Mộ Dung Thạch và tiểu thư Thiên Kim. Cuộc đời trái ngang chia hai lối rẽ, dẫu rằng yêu nhau, nhớ về nhau những họ mãi không đến được với nhau. Âu cũng đành đổ lỗi cho số mệnh. Song song đó, vở cải lương còn để lại dấu ấn cho người xem bởi mối tình si đầy đau khổ của nàng Quế Minh, dẫu thế nào vẫn một lòng sắt son, chung thủy với một người duy qua bao nhiêu năm tháng, vở cải lương “Kiếp nào có yêu nhau” vẫn luôn nhận được sự yêu thích, mến mộ từ khán giả, cũng như có nhiều thế hệ nghệ sĩ trẻ sau này thể hiện lại. Qua đó cho thấy được giá trị to lớn, nhân văn của vở cải lương cũng như từng giọng ca huyền thoại ngày ấy mãi mãi trường tồn theo thời giả Nguyên Thảo, Hạnh sĩ thể hiện Lệ Thủy, Minh Vương, Mỹ Châu,… Kiếp nào có yêu nhau Mỗi vở cải lương cổ mà chúng mình giới thiệu như trên đều là những vở diễn huyền thoại, làm nên tên tuổi của biết bao thế hệ nghệ sĩ ngày trước, cũng như tạo dấu ấn vàng son cho nền nghệ thuật cải lương nước nhà. Bên cạnh những nghệ sĩ đã thể hiện trọn vẹn các vai diễn, thế hệ nghệ sĩ sau này cũng lần lượt tiếp nối và phát huy nét đẹp ấy, thần thái ấy của các nhân vật trong từng tác phẩm một cách xuất sắc, thành công. Trải qua bao năm tháng, cải lương vẫn còn đó, vẫn mang sức sống mạnh mẽ, kiên cường. Đó là thành quả của biết bao sự cố gắng, những giọt mồ hôi đổ xuống vì nghệ thuật. chúng mình hi vọng rằng thông qua bài viết này, các bạn có thể hiểu thêm về nền cải lương nước nhà, cũng như thêm yêu mến bộ môn văn hóa nghệ thuật dân tộc này. Đăng bởi Lê Trần Minh ThyTừ khoá 10 vở cải lương cổ hay nhất mọi thời đại

những vở cải lương hay nhất việt nam